Thứ Ba, 13 tháng 3, 2012

Chuyến Xe Đò

Dịch giả Hoàng Hưng đã chuyển ngữ câu chuyện thương tâm có thật đã xảy ra tại Trung Quốc như sau.[1]

Một chiếc xe bus chở đầy khách đang chạy trên đường đồi. Giữa đường, ba thằng du côn có vũ khí để mắt tới cô lái xe xinh đẹp. Chúng bắt cô dừng xe và muốn “vui vẻ” với cô. Tất nhiên là cô lái xe kêu cứu, nhưng tất cả hành khách trên xe chỉ đáp lại bằng sự im lặng. Lúc ấy một người đàn ông trung niên nom yếu ớt tiến lên yêu cầu ba tên du côn dừng tay; nhưng ông đã bị chúng đánh đập. Ông rất giận dữ và lớn tiếng kêu gọi các hành khách khác ngăn hành động man rợ kia lại nhưng chẳng ai hưởng ứng. Và cô lái xe bị ba tên côn đồ lôi vào bụi rậm bên đường. Một giờ sau, ba tên du côn và cô lái xe tơi tả trở về xe và cô sẵn sàng cầm lái tiếp tục lên đường…

“Này ông kia, ông xuống xe đi!” Cô lái xe la lên với người đàn ông vừa tìm cách giúp mình.

Người đàn ông sững sờ, nói: “Cô làm sao thế? Tôi mới vừa tìm cách cứu cô, tôi làm thế là sai à?”

“Cứu tôi ư? Ông đã làm gì để cứu tôi chứ?” Cô lái xe vặn lại, và vài hành khách bình thản cười.

Người đàn ông thật sự tức giận. Dù ông đã không có khả năng cứu cô, nhưng ông không nên bị đối xử như thế chứ. Ông từ chối xuống xe, và nói: “Tôi đã trả tiền đi xe nên tôi có quyền ở lại xe.”

Cô lái xe nhăn mặt nói: “Nếu ông không xuống, xe sẽ không chạy.”

Điều bất ngờ là hành khách, vốn lờ lảng hành động man rợ mới đây của bọn du côn, bỗng nhao nhao đồng lòng yêu cầu người đàn ông xuống xe, họ nói: “Ông ra khỏi xe đi, chúng tôi có nhiều công chuyện đang chờ và không thể trì hoãn thêm chút nào nữa!”

Một vài hành khách khỏe hơn tìm cách lôi người đàn ông xuống xe. Ba tên du côn mỉm cười với nhau một cách ranh mãnh và bình luận: “Chắc tụi mình đã phục vụ cô nàng ra trò đấy nhỉ!”

Sau nhiều lời qua tiếng lại, hành lý của người đàn ông bị ném qua cửa sổ và ông bị đẩy ra khỏi xe. Chiếc xe bus lại khởi tiếp hành trình. Cô lái xe vuốt lại tóc tai và vặn radio lên hết cỡ. Xe lên đến đỉnh đồi và ngoặt một cái chuẩn bị xuống đồi. Phía tay phải xe là một vực thẳm sâu hun hút. Tốc độ của xe bus tăng dần. Gương mặt cô lái xe bình thản, hai bàn tay giữ chặt vô lăng. Nước mắt trào ra trong hai mắt cô. Một tên du côn nhận thấy có gì không ổn, hắn nói với cô lái xe: “Chạy chậm thôi, cô định làm gì thế hả?” Cô tài xế vẫn không đáp lại lời nào. Tên du côn tìm cách giằng lấy vô lăng, nhưng chiếc xe bus lao ra ngoài vực như mũi tên bật khỏi cây cung.

Hôm sau, báo địa phương loan tin một tai nạn bi thảm xảy ra ở vùng “Phục Hổ Sơn”. Một chiếc xe cỡ trung rơi xuống vực, tài xế và 13 hành khách đều thiệt mạng.

Người đàn ông đã bị đuổi xuống xe đọc tờ báo và khóc. Không ai biết ông khóc cái gì và vì sao mà khóc!

* * *

Mời bạn đặt mình vào chuyến hành trình ấy để thử nhìn xem mình phản ứng ra sao trong sự kiện trên.

Quan sát hoàn cảnh, ta có thể nhận thấy có ba giai đoạn xảy ra sự kiện trong câu chuyện. Hoàn cảnh thứ nhất, bạn chứng kiến cảnh cô gái kêu cứu bạn, nhưng bạn không đáp trả lời kêu cứu ấy. Cảnh thứ hai, bạn chứng kiến người đàn ông đã can đảm một mình đứng lên bênh vực cho người yếu thế. Ông cũng kêu gọi sự trợ giúp của bạn, nhưng bạn cũng làm ngơ. Cảnh thứ ba, bạn chứng kiến cảnh cô tài xế đuổi người đàn ông ra khỏi xe (theo suy nghĩ thông thường, cô tài xế đã hành xử bất công, nhẫn tâm), trong cảnh này, bạn cũng lại im lặng, và thậm tệ hơn, có khi bạn lại nằm trong số hùa theo đám đông xô người đàn ông ra khỏi xe để xe chạy cho tới nơi của bạn.

* * *

Người sống đúng với giá trị làm người của mình thường phải lội ngược dòng. Động cơ nào mà người đàn ông trong câu chuyện trên đã sống ngược dòng như vậy? Khi con người trở về với căn tính thật của mình, họ sẽ có khả năng nhận ra ý nghĩa và mục đích của đời họ. Tự trong sâu thẳm lương tâm của mỗi người, tiếng gọi sống vì lý tưởng công bằng luôn luôn mạnh mẽ. Hay nói cách khác, người sống căn tính thật với lòng mình họ sẽ dễ nhạy bén nhận ra sự bất công đang xảy ra xung quanh họ. Khi đã nhận ra tiếng lương tâm này, họ có sức mạnh phi thường để đứng lên bảo vệ cho người bị bất công mà không hề nghĩ tới hậu quả sẽ xảy đến với chính mình. Đây chính là đặc điểm cao quí của loài người mà các loài thú vật không có được (hoặc nếu chúng có, thì chúng cũng chỉ phản ứng theo bản năng của mối liên hệ mẹ-con).

Vấn đề đặt ra là làm sao chúng ta luyện lương tâm chúng ta nhạy bén được như thế? Hằng ngày, nếu bạn tập nghĩ đến người khác, nếu bạn lắng nghe hoàn cảnh người khác với trái tim thông cảm, nếu bạn đặt hoàn cảnh của mình vào những con người đang đau khổ mà chúng ta gặp thấy hằng ngày qua báo chí, truyền hình, một lúc nào đó lương tâm cũa bạn sẽ nhạy bén hơn đối với vấn đề bất công, nghèo đói trong xã hội loài người. Vậy rào cản nào đã làm cho chúng ta ít suy nghĩ tích cực và cảm thông với người khác? Thưa, đó là vì chúng ta tập trung suy nghĩ về chúng ta thái quá; và chúng ta cũng thường xét đoán về người khác. Hoặc quá bận tâm lo cho chính ta, hoặc xét đoán “đúng sai” về người khác là cản trở lớn cho chúng ta vươn ra khỏi cái tôi để học chia sẻ với người khác – đó cũng chính là lối suy nghĩ tiêu cực, nhỏ nhen mà ít khi chúng ta để ý tới.

Mục Sống Sao Cho Đẹp mời bạn ví thử đời mình là một người hành khác trong chuyến xe đò của môi trường mình đang làm việc, của cộng đồng mình đang sinh hoạt, của đất nước mình đang sinh sống. Bạn có thấy hoàn cảnh tương tự như câu chuyện trên không? Nếu bạn không thấy, mời bạn tập suy nghĩ về người khác, tập quan tâm về người khác, tập đặt minh trong hoàn cảnh của những người đang bị bất công, bị đau khổ mà chúng ta gặp được trong cuộc sống. Nhưng nếu bạn đã thấy những cảnh bất công tương tự như trong câu chuyên, bạn sẽ làm gì sau khi đọc câu chuyện này?

Br. Huynhquảng


Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012

Đạo Và Đời

Khi nói “Đạo và Đời” thường người ta nghĩ đến mối quan hệ giữa tôn giáo và đời sống thế tục. Tuy nhiên danh từ Đạo ở đây còn có thể mang một ý nghĩa khác. Nghĩa này minh triết Đông phương cho nó là một thực tại không thể nói , không thể gọi tên “Đạo khả Đạo phi thường Đạo, Danh khả Danh phi thường Danh” (Lão Tử ĐĐK chương một ) Đạo mà có thể nói, giải nghĩa thì đó không phải Đạo thường, Danh mà có thể gọi thì đó không phải là Danh Thường. Chữ THƯỜNG có nghĩa là thường hằng đời đời bất diệt. Cái thực thể thường hằng ấy tuy không thể nói, không thể gọi nhưng phải được truyền giảng. Không truyền giảng thì chân lý làm sao mà có thể hiện thực có nghĩa đưa Đạo vào Đời ? Làm cho Đạo có thể nhập được vào Đời đó phải là sứ mạng chân chính duy nhất của tôn giáo. Ngược lại đó không phải là Đạo “Đạo bất viễn nhân, nhân chi vi đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi đạo” (Đạo không xa bản tính người, nếu theo đạo để cho xa cái bản tính người thì đó không phải là Đạo)

Đức Giêsu Kitô là sự sáng soi để cho con người có thể nhận biết hầu thể nhập với Đạo “Ban đầu có Đạo, Đạo ở cùng Đức Chúa Trời và Đạo là Đức Chúa Trời. Đạo ấy ban đầu ở cùng ĐCT, muôn vật bởi Ngài dựng nên, phàm vật dựng nên ngoài Ngài chẳng thể có vật gì được dựng nên. Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người . Sự sống soi trong tối tăm mà tối tăm chẳng tiếp nhận” (Ga 1, 1-5) Đức Kitô xuống thế để mở ra một mối Đạo nhưng muốn thực sự sống cái mối Đạo ấy thì phải dám bỏ mình “Ai muốn theo Ta thì phải bỏ mình vác thập tự giá hàng ngày mà theo”(Mt) Phải bỏ mình đi mới có thể sống Đạo và sống Đạo không phải là sống cái chi khác mà là sống cái bản tính mình.

Sống Đạo là sống cái bản tính, hiểu như vậy thì vấn đề quan trọng cần phải đặt ra , vậy bản tính đích thực của con người là gì ? Trong suốt 25 thế kỷ qua , có thể nói toàn bộ tư tưởng Tây phương trong đó cố nhiên bao gồm cả Kitô giáo đã bị thống ngự bởi câu định nghĩa của Aristote “Người là con vật biết suy lý” (l’homme est l’animal raisonable). M. Heidegger đã nặng lời kết án câu định nghĩa đó là thú vật(zoologique) “ Chính trong khung cảnh của câu định nghĩa trên mà đã được kiến tạo nên quan niệm về con người của Âu Tây tất cả những gì là tâm lý, luân lý tri thức luận và nhân bản. Đã từ lâu chúng ta bị xiêu bạt trong mớ lộn xộn những ý tưởng và khái niệm từ trong các môn đó là vì cứ sự nó đã đặt nền trên một câu định nghĩa sa đọa” (Kim Định – Nhân Bản )

Đạo là thực thể tuy không thể nói, không thể gọi tên, nhưng đây mới chính là cái nền tảng, là bản tánh của muôn loài muôn vật, kể cả vô tình lẫn hữu tình. Ở loài vô tình thì đó là Tánh Không, còn ở loài hữu tình thì Đạo Phật cho nó là giác tánh (Tánh Biết). Đạo Chúa cho là Thiên Chúa Tình Yêu”( 1Ga 4, 16.)

Cái Thể tức ĐẠO là hoàn toàn trống không (chân không) nhưng chính do nơi cái trống không đó nên mới có thể có được muôn vàn diệu dụng. Này nhé, bất kể thứ gì từ những cái vật dụng sử dụng thường ngày, cái ly ,chén bát, xe cộ…..cho đến sự sống muôn loài đều được quyết định bởi cái KHÔNG trống rỗng ấy. Một cái nhà để ở thì cần phải có cửa sổ, cửa ra vào mà hễ đã gọi là cửa thì đó chẳng phải là để mở thông từ khoảng trống bên trong là cái phòng ra đến bên ngoài hay sao? Mặt khác chúng ta có sống, có tồn tại được cũng là do trong thân thể có những khoảng không. Không có những khoảng không trong phổi, trong tim, trong miệng, trong mũi, trong ruột….thì chúng ta có thở ra hít vào, có thể ăn uống tiêu tiểu được không ?Tánh KHÔNG ấy xét về mặt vĩ mô,không gì có thể ở ngoài nó còn xét về mặt vi mô không gì có thể ở trong nó.

Ở nơi vạn vật Tánh KHÔNG là THỂ, còn ở nơi con người nó là Tánh BIẾT. Tánh BIẾT này bất sinh bất diệt và không ai lại không đầy đủ dù là hạng thông minh bác học xuất chúng hay là kẻ ngu si thất học. Tánh BIẾT ấy thể hiện qua mắt gọi là Thấy, qua tai gọi là Nghe, qua mũi gọi là Ngửi, qua lưỡi gọi là Nếm, qua thân gọi là Xúc, qua ý gọi là Thức. Ta sống là sống với Tánh BIẾT dù khi ngủ hay khi thức.Hằng ngày ta vẫn sống với Tánh BIẾT , dù đi, đứng, nằm ngồi, tắm giặt ăn ngủ….và nếu ta biết là ta đang đi đứng nằm ngồi….thì đó là Thiền là tỉnh thức còn trái lại là mê. Ta đi đứng, nằm ngồi… là đi đứng nằm ngồi….chứ chẳng có ai phải suy tư nghĩ ngợi rồi mới có thể đi đứng nằm ngồi….Tuy nhiên , thực tế thì sao ? Có ai trong khi đi đứng nằm ngồi , đọc kinh lần chuỗi…mà chỉ có đi đứng nằm ngồi đọc kinh lần chuỗi…hay là cứ rong ruổi lan man nghĩ ngợi hết chuyện này việc kia ? Có khi đang ăn mà có việc nghĩ ngợi lại quên cả ăn, mất cả ngủ đó là chuyện thường tình của người thế gian…. Danh từ nhà đạo chúng ta gọi cái việc đọc kinh mà cứ suy nghĩ vẩn vơ gọi là chia lòng chia trí. Chia lòng chia trí có nghĩa là phân tâm mà phân tâm tức là phân cái tâm ra làm hai. Đang là chân tâm vô phân biệt bất sinh bất diệt lại biến nó thành ra cái tâm phân biệt vọng tưởng sinh diệt. Tâm vô phân biệt là tâm tỉnh giác là ĐẠO, còn tâm phân biệt là tâm mê muội là ĐỜI.. ĐẠO và ĐỜI chỉ khác biệt nhau ở chỗ tỉnh và mê đó mà thôi.

Trong câu chuyện nguyên tổ sa ngã đầy tính minh triết ấy ta thấy Adam đã “Ăn”phải trái cấm phân biệt và đã bị đuổi khỏi Vườn Địa Đàng để rồi cứ mãi trôi lăn trong kiếp phù sinh bọt bèo đau khổ “Đất sẽ sanh chông gai và cây trái đắng đót. Ngươi sẽ ăn rau cỏ của ruộng đồng. Phải đổ mồ hôi trán rán mồ hôi bụng mới có cái để ăn cho đến ngày nào ngươi trở về đất là nơi mà ngươi đã được sinh ra. Vì ngươi là cát bụi thì sẽ trở về với cát bụi” Stk 3, 18-19.

Con người được sinh ra giống “Hình ảnh Thiên Chúa”(Stk 1, 26) tức cội nguồn của nó là Thiên Chúa chứ không phải đất bụi, thế nhưng dường như sau khi bị đuổi khỏi Địa Đàng thân phận của nó đã bị thay đổi “cát bụi lại trở về cát bụi”. Chắc chắn thân phận của nó sẽ mãi mãi là như thế nếu không có Lời Hứa của Thiên Chúa Giave “Ta sẽ làm cho mi cùng Người Nữ, dòng dõi mi cùng dòng dõi Người Nữ nghịch thù nhau. Người sẽ dày đạp đầu mi còn mi thì sẽ rình cắn gót chân Người” (Stk 3, 15).

Người Nữ ai cũng biết ám chỉ Đức Nữ Trinh MARIA, người đã được tiên báo trong Kinh Thánh “ Kìa Nữ Đồng Trinh sẽ thọ thai sinh một con trai. Người ta sẽ gọi con trẻ đó là Emmanuel nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” Is 7,14. Còn Đấng Thiên Chúa ở cùng đó chính là Đức Giesu KiTô, Ngài đã từ nơi Đạo để vào ĐỜI, từ chỗ vô hình vô tướng không thể nói không thể gọi tên để vào nơi hữu hình hữu tướng có thể nghe , có thể xúc tiếp “Đạo đã trở nên xác thịt, đóng trại giữa chúng ta, đầy ân sủng và lẽ thật” (Ga 1, 14.) Đức KiTo đã từ nơi Đạo vào Đời không phải là để ở lại cái cõi sinh diệt , diệt sinh vô thường khổ não này làm gì, sứ mạng một khi đã hoàn tất, Ngài về cùng CHA “Ta từ CHA mà đến thế gian, lại lìa thế gian mà về cùng CHA” (Ga 16,, 28.) Sứ mạng cứu nhân độ thế của Chúa Giesu là để dẫn đưa con người về với Đấng CHA và sự trở về ấy không phải chỉ dành cho con người mà là của toàn thể sinh linh vạn vật. Lão Tử nói “Vạn vật tịnh tác ngô dĩ quan phục. Phù vật vân vân các phục quy kỳ căn, quy căn viết tịnh, thị viết phục mạng, phục mạng viết thường”(vạn vật cùng đều sinh ra, ta lại thấy nó trở về gốc. Ôi mọi vật trùng trùng đều trở về gốc của nó.Trở về cội rễ gọi là tịnh, ấy gọi là phục mạng, phục mạng gọi là THƯỜNG –ĐĐK, chương 16 )

Vạn vật sinh nhưng sinh là để trở về chứ không phải để cứ mãi biền biệt ra đi. Bao lâu đi mà chưa về được thì vẫn chưa thỏa. Tản Đà thi sĩ ngóng ngày về của nước với non “…nước đi đi mãi chưa về cùng non”. Đức Khổng Tử thở than “thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ ?(đêm ngày cứ trôi chảy mãi thế này ư? (Luận ngữ- Tử Hãn ) Còn Thánh Augustin lại thiết tha van nài với CHÚA “Lạy Chúa ,Chúa đã dựng nên con vì Chúa, nên tâm hồn con còn xao xuyến mãi cho tới khi được nghỉ yên nơi Ngài”

Làm sao để “VỀ” đó là ước vọng tha thiết của những con người tôn giáo. Tuy nhiên khát vọng tâm linh ấy chỉ có thể nhen nhúm để rồi bùng cháy khi nào ta nhận thức được tính chất khổ của mình, của người và của toàn thể cuộc sống này. Càng thấy mình, thấy người khổ, thấy đời khổ bao nhiêu thì càng có cơ thoát khổ bấy nhiêu. Ngược lại không thấy đời là bể khổ, thế gian là chốn khách đầy thì chẳng đời nào muốn về. Mà đã không muốn thì chẳng bao giờ có thể về. Hãy thử xem đứa con hoang đàng kia nếu nó không khổ sở nhục nhã đói rách bị người ta dày đạp bắt đi chăn heo “mong lấy vỏ đậu của heo ăn mà thồn cho đầy bụng nhưng chẳng ai cho” Gạ 15, 12.thì y ta có tỉnh ngộ được chăng ? Thấy khổ không phải để rồi bi quan yếm thế chán người chán đời. Chúa xuống thế đưa Đạo vào Đời không phải để dạy cho chúng ta bài học làm người chi chi đó nhưng là để trao ban giới răn yêu thương “Điều răn của Ta đây này, các con hãy yêu thương nhau cũng như Ta đã thương yêu các con” Ga 15, 12.

Giới răn của CHÚA đòi hỏi chúng ta phải yêu như CHÚA yêu.. Có yêu như thế mới là yêu thật. Ngoài ra chỉ là môi mép đãi bôi Thế nhưng mối Đạo một khi đã mở tất nhiên cũng phải có lối vào. Lối vào ấy thế này “Như CHA đã thương yêu Ta thế nào thì Ta cũng thương yêu các ngươi thể ấy. Hãy cứ ở trong sự thương yêu của TA .Nếu các ngươi giữ các điều răn của Ta thì sẽ cứ ở trong sự thương yêu của Ta cũng như chính Ta đã giữ các điều răn của Cha Ta và cứ ở trong sự thương yêu của Ngài” Ga, 15, 9-10

“Cứ ở trong sự thương yêu” đó là cái cốt yếu của Đạo. Thế nhưng thế nào là cứ ở trong sự thương yêu ? Đức KITÔ vì yêu thương nhân loại đến nỗi hiến cả mạng sống mình để mở ra con đường thoát khổ bằng cách truyền dạy nhiều điều và nhất là đã lập ra các Bí Tích hầu cho chúng ta được ơn cứu rỗi. Tuân giữ các giới răn với tất cả lòng tin yêu đó chính là “cứ ở trong sự thương yêu”. Chúa dạy “ Khi làm xong mọi việc được giao phó, hãy nói chúng tôi chỉ là đầy tớ vô dụng” Lc17, 10. đó là ở trong sự thương yêu. Chúa dạy “Khi các con cầu nguyện hãy vào phòng kín đóng cửa lại rồi cầu nguyện Cha ngươi” Mt 6, 6. thì những việc đọc kinh lần hạt dự lễ đều phải quy hướng về Ngài đó là cứ ở trong sự thương yêu. Tóm lại “ở trong sự thương yêu tức là làm mọi việc vì CHÚA chứ không phải vì mình. Làm vì CHÚA thì ở trong CHÚA còn làm vì mình thì ở ngoài CHÚA. Ở trong CHÚA thì như cành được tháp vào thân cây tươi tốt thu đoạt vô kể công phúc. Trái lại không ở trong CHÚA thì giống như cành lìa cây bị khô héo chỉ có nước quăng vào lửa “Nếu ai chẳng cứ ở trong Ta thì bị ném ra như nhánh kia khô héo rồi người ta lượm lấy quăng vào lửa mà đốt đi .Ví bằng các ngươi cứ ở trong Ta và Lời Ta cứ ở trong các ngươi thì hễ điều gì các ngươi muốn hãy xin thì Ta sẽ làm điều đó cho các ngươi Ga, 15, 6-7.
Ở trong CHÚA tức ở trong ĐẠO mà ĐẠO thì hằng miên viễn tràn đầy khoái hoạt và tự do. ĐẠO không thể cưỡng cầu nhưng cũng không thể không hết lòng tìm và một khi đã tìm được dù chỉ một phần rất nhỏ thôi thật cũng đáng để cho biết rằng mình chẳng uổng công bấy lâu. Vì vậy nên nói:
“Đạo chi tôn
Đức chi quý
Phù mạc chi mạng nhi thường tự nhiên
” (Đâu phải tôn đạo quý đức là một phận sự bắt buộc mà là một chiều hướng tự nhiên) Lão Tử.ĐĐK chương 51)

Phùng Văn Hóa


Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

Một Thánh Lễ Tạ Ơn Với Chút Tản Mạn Của Riêng Tôi

alt

Nhà thờ Đồng Bình một ngày Thánh lễ Tạ Ơn mừng đón cha tân chánh xứ An-tôn Nguyễn Văn Thục.

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

Blogger Hải Phòng & Khách Đà Nẵng

Cuối tháng 7 có hai nữ blogger Đà Nẵng ghé thăm Hải Phòng. Người thứ nhất là Minh Hương, người thứ hai là Hoa Băng Tuyết. Cả hai đều đến Hải Phòng nhân chuyến ra Bắc với công việc riêng của mỗi người nên tuy cùng xuất phát từ Đà Nẵng cùng ngày nhưng mỗi người lại có một lộ trình riêng và không đến Hải Phòng được cùng lúc. Minh Hương đến ngày 24/7, Hoa Băng Tuyết đến ngày 28/7. Cả hai đều chỉ dành cho Hải Phòng một khoảng thời gian chưa đầy 24 tiếng đồng hồ...

Sau đây là hình ảnh của hai cuộc gặp gỡ với hai nữ blogger Đà Nẵng ấy, xin được chia sẻ cùng mọi người:

alt

Chủ nhà trong chuyến ghé thăm của Minh Hương

Từ trái qua: Tuấn Anh, Thy Nguyên, Nguyễn Quốc Hùng, Hoài Khánh, ntt

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

Đêm Trăng Nghĩ Về Anh

 

alt


               Trong lòng Chúa, trong lòng nhau

               Tình yêu mãi là lẽ sống.

               Trong lòng Chúa, trong lòng nhau

               Gian truân là ân phúc

                                            khổ đau là cao quý.

               Trong lòng Chúa, trong lòng nhau

               Tràn trề ơn thiêng

                                        hai mảnh tim hướng thẳng lên Ngài./.

                                   

                                              (một đêm trăng sáng)

                                                  Đặng Kim Thoa