Thứ Năm, 21 tháng 10, 2010

Thăng Long: "Vùng Đất Huyền Sử"

Sau ba tuần lễ, tìm lại những dấu chân còn đậm nét của Tổ Tiên, trên vùng đất “Văn Hoá Sông Hồng” tôi trở về nhà, lòng tràn ngập xúc động vui sướng và biết ơn. Tôi tạ ơn Trời Đất đã tạo ra cơ hội và cho phép tôi trở về với Đền Tháp Cổ Loa, đền thờ Thánh Gióng, Hồ Hoàn Kiếm và Đầm Xác Cáo ở Hồ Tây… sau gần 70 tuổi đời thao thức, tìm kiếm, sưu tầm và mộng mơ… cuối cùng, tôi đã đến tận nơi, đã thấy tận mắt, đã thầm thì khấn nguyện với bao nhiêu vong linh đang còn hiện diện rõ nét, trong từng nắm đất, trên từng viên gạch và mái ngói đã đóng lớp rêu phong của tháng ngày.
***

1. Lưỡi gươm của Thần Kim Qui:
Trên Hồ Gươm phải chăng Thần Kim Qui vẫn còn có mặt, như một hôm nào đã hiện lên trao ban thanh kiếm “ Cứu Nước Cứu Nhà” cho một vài vị vua, thuộc nhà Lý, nhà Trần và nhà Lê…?
Nhiều lần đi quanh Hồ Hoàn Kiếm, tôi vẫn còn đặt ra cho mình câu hỏi: phải chăng thanh gươm của Thần Kim Qui chỉ là một huyền thoại vu vơ, không có thực, hay là đã bị đánh mất một cách vĩnh viễn?
Và rồi ngồi xuống trên một ghế đá, nhìn mặt hồ, tôi từ từ đi vào một giấc mơ: tôi đi theo Thần Kim Qui… vào trong các gia đình của người Việt Nam ở Bắc, cũng như ở Nam. Ở trong nước cũng như ở ngoài nước.
Cụ già tới đâu cũng đưa mắt tìm kiếm thanh kiếm ngày xưa. Cụ chỉ thấy tủ lạnh, máy vi tính, đài truyền hình và bao nhiêu vật dụng tối tân và quí giá. Thế rồi, sau bao nhiêu năm bôn ba, cụ phải trở về Hồ Gươm với hai bàn tay trắng. Không một nơi nào, một nhà nào, thậm chí các chùa chiền, đền thờ… còn giữ lại thanh kiếm mà C? đã trao ban. Hôm ấy, bừng tỉnh dậy, tôi buồn một nỗi buồn thấm thía, cơ hồ cụ là tôi và tôi cũng là cụ. Từ hôm ấy, tôi hứa với cụ là sẽ tiếp tục đi tìm thanh gươm trong đáy sâu tâm hồn của những đứa bé “ xấu số” chưa được lưu tâm và chăm sóc, trong lòng quê hương. Hoạ may, trong cái hoạ, vẫn còn cái phúc đang được cất giấu ở dưới những vùng sâu thăm thẳm của nội tâm?

2. Thánh Gióng được gọi lên đường đánh tan giặc Ân:
Theo Sử Sách, giặc từ phía bắc tràn vào xâm chiến Nước Non mang tên là giặc Hán, giặc Nguyên, giặc Minh và giặc Thanh. Không một loại giặc nào mang tên là giặc Ân, tuy dù có một nhà vua của Trung Quốc mang tên là Ân, vào khoảng năm 200 sau công nguyên.
Vậy giặc Ân được Thánh Gióng đánh tan tành là loại giặc nào?
Đến tận vùng núi Sóc Sơn, nơi có Đền Thờ của Ngài, chứng kiến những vết chân ngựa to tướng và bây giờ là những hồ nước chung quanh đền thờ. Tôi mới nhận thức được rằng: giặc Ân đã khởi phát từ trung tâm của Đồng Bằng Sông Hồng.
Thánh Gióng đã dẹp tan giặc Ân ở nơi ấy và bay lên trời từ nơi ấy, chứ không phải ở tận biên thuỳ và từ biên thuỳ xa xôi.
Chừng ấy dữ kiện cho tôi thấy rõ: giặc Ân đã khởi phát ở giữa lòng quê hương, trong thâm cung cõi lòng của con Hồng cháu Lạc. Giặc Ân, trong lối nhìn ấy, là giặc Tình, giặc Nghĩa, giặc quan hệ giữa cha mẹ và con cái, cũng như giữa anh chị em đồng bào. Theo cách nói của Ca Dao, đó là loại giặc giữa “ gà một nhà bôi mặt đá nhau”.
Nguồn gốc phát sinh loại giặc Ân này là tinh thần nhị nguyên đang len lõi nằm vùng, ăn đời ở kiếp, trong chính tâm hồn của mỗi người. Tình anh chị em đồng bào bị chà đạp, vì những lời khẳng định vô căn cứ như:
- Tao tốt, mày xấu,
- Tao hơn, mày thua,
- Tao yêu nước, mày bán nước,
- Tao đúng, mày sai,
- Tao có chân lý, mày phi lý, mày sai lạc.
Vì loài giặc nay đang tung hoành ngang dọc, cho nên người đánh người, người chà đạp, bóc lột, ức hiếp người. Cha mẹ đánh đập con cái. Cho nên, chính chúng ta đã và đang sản xuất những đoàn lủ người trẻ bỏ nhà đi lang thang, cao bồi du đãng, hút xách, nghiện ngập, xì ke, ma tuý, xi đa, cờ bạc, hối lộ, tham tàn, mua bằng cấp, bán chức tước địa vị.
Nhằm đánh tan loại giặc Ân này, Thánh Gióng đã được bà con xa gần nâng đỡ, đóng góp, bằng cách cung cấp “ ngựa sắt, roi sắt, mủ sắt…” nghĩa là ý chí quyết tâm và lòng can đảm vô bến bờ.
Không học lại một lối nhìn, không nghe lại với vành tai xôn xao, không học yêu thương với quả tim của Quan Thế Âm, không mang một tấm lòng cao cả và bao la của trời và đất, làm sao chúng ta có khả năng xây dựng những quan hệ chia sẻ và đồng hành với mỗi người anh chị em đồng bào trên khắp những nẻo đường của Đất Nước?

3. Mỵ Châu không có đầu
Đằng sau Đền Thờ tại Cổ Loa, Mỵ Châu được tôn kính như một vị thần đích thực. Những bức tượng của Mỵ Châu không có đầu, đằng sau những lớp áo quần trang sức rất sang trọng và quí giá.
Đứng trước bức tượng này, tôi đã rất xúc động tưởng nghĩ đến nàng công chúa, đứa con độc nhất của vua An Dương Vương, bị vua cha rút gươm chém mất đầu, trên đường tránh nạn.
Ai là nguyên nhân gây ra tấn bi kịch hãi hùng và khủng khiếp này? Vua An Dương Vương, Trọng Thuỷ, Mỵ châu hay là Triệu Đà?
Theo tôi, tất cả bốn nhân vật đều “ đồng trách nhiệm” nghĩa là đã đóng góp phần mình, một cách tích cực để gây ra sự cố vô ích và vô nghĩa ấy:
- Mỵ châu vì nhẹ dạ, thiếu suy nghĩ, nên đã bộc lộ bí mật quốc phòng cho ngoại lai.
- Trọng Thuỷ đã phản bội quan hệ vợ chồng để rồi phải mất người yêu và mất tất cả ý nghĩa của cuộc sống.
- Triệu Đà nhận được gì khi đánh mất lòng liêm sĩ của mình và tính mạng của đứa con thân yêu?
- An Dương Vương tạo được gì khi rút gươm chém đầu đứa con gái độc nhất của và yêu quí của mình trước khi đi vào con đường tự vẫn vì thất vọng?
Nếu ai ai cũng ý thức một cách sáng suốt, đến vai trò và trách nhiệm đóng góp của mình, trong điều lành cũng như việc xấu, chắc họ đã tạo cho mình một tầm nhìn tòan diện và xây dựng hơn.
Đất Nước sẽ như thế nào, nếu ai ai cũng hiểu rõ trách nhiệm đóng góp và chia sẻ của mình trong lời ăn tiếng nói?
Ai buồn mà lòng tôi không tìm lời ủi an?
Ai đói rách mà tôi không tìm cách đùm bọc với tất cả tấm lòng?
Hẳn thực đất nước là một bãi tha ma, chết chốc, điêu tàn và tuyệt vọng, nếu mỗi người khẳng định “ Anh đi đường anh, tôi đi đường tôi, tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi”

4. Đầm xác Cáo ở Hồ tây
Từ đời Lạc Long Quân cho đến ngày hôm nay, thuộc thời đại nghìn năm thứ ba, ba con yêu tinh đang tàn phá Đất Nước và giết hại anh chị em đồng bào .Đó là Mộc Tinh, một cây Chiên Đàn mất gốc và mất rễ, không còn khả năng toả bóng mát giữa trưa hè đứng ngọ.
Ngư tinh là con cá làm ô nhiễm và tê liệt mọi dòng sông và đường nước của quê hương, khả dĩ đầu độc mọi mầm sống trong hàng ngủ giới trẻ.
Con yêu tinh nguy hại hơn tất cả là những con cáo, con chồn mang tên là Hồ Tinh ẩn núp trong các hang động u tối. Đêm đêm chúng nó hiện hình thành người, đi ra các thôn xóm, bắt cóc đàn bà và trẻ con đem về thoả mản tình dục của mình.
Nếu chúng ta không tàn diệt những con yêu tinh “ mất gốc, mất rể”, đầu độc và làm ô nhiễm giới tre, cũng như đàn áp và bóc lột anh chị em đồng bào, công việc xây dựng Đất Nước của chúng ta chỉ là: “ Nước rơi đầu vịt” hay là “ Dả tràng xe cát biển đông”. Tất cả kỳ vỉ của Lạc Long Quân đã bắt đầu từ đo, bằng cách mở bờ đê Yên Phụ cho nước sông Hồng ùa vào hồ Tây và làm tràn ngập mọi hang động ẩn núp của Hồ Tinh. Chính vì lý do này, Hồ tây còn mang tên là Đầm Xác Cáo. Đó là nơi Hồ Tinh bị tiêu diệt.
Để xây dựng đất nước và phục vụ anh chị em đồng bào một cách thiết thực và hữu hiệu, phải chăng ngày hôm nay chung ta cần quyết tâm hội nhập văn hoá Sông Hồng vào trong cuộc sống cụ thể hằng ngày, nghĩa là khước từ mọi tư duy bốc lột và đàn áp người anh chị em trên khắp mọi hang cùng ngỏ hẻm của đất nước. Khi tôi chia sẻ một nửa bát cơm, tôi còn giữ lại một nửa bát. Khi tôi chia sẻ căn nhà cho một người qua đêm, căn nhà trọn vẹn vẫn thuộc về tôi. Khi tôi chia sẻ một tấm lòng như Nguyễn Trãi, con người tôi trở nên “ Vạn Xuân” nghĩa là bất tử và bất diệt. Nhờ đó Đất Nước và Quê Hương sẽ trưởng tồn muôn thế hệ.

5. Lãnh đạo trong lòng Quê Hương:
Bước chân lên những vùng đất như Chương Dương, Thiên Trường, Mê Linh… hình ảnh thân thương của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng lại hiện về trong tâm tương và nhớ thương.
- Bài Hịch Tướng Quân, trước khi xuất trận của Tướng Nhà Lý: “ Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Vương” (Nước non của Xứ Nam do người Nam xây dựng và làm chủ) …
- Câu trả lời của Tướng Nhà Trần, khi nhà vua đến tham vấn “ nên đánh hay đầu hàng” để cho dân khỏi lầm than cơ cực: “ Xin Bệ Hạ hãy chém rơi đầu Trẩm, trước khi ra hàng”…
- Thái độ “ nắm gai nếm mật” của Hai Bà Trưng với binh sỉ và dân chúng…
Ba tấm gương sáng ngời ấy đã chứng minh rõ ràng: Văn Hoá sông Hồng có khả năng tôi luyện và tạo dựng những vị lãnh đạo chiều ngang ( lateral leadership): biết lắng nghe người dân, biết đồng hành và chia sẻ với người ở dưới, trong mọi tình huống thuận lợi cũng như bất lợi. Hơn là rót xuống những mệnh lệnh từ trên và từ ngoài.
Trong suốt gần 3 tuần lễ, tôi đã có nhiệm vụ điều hợp một khoá học căn bản cho các cha mẹ có con cái mang trên mình một vài dấu hiệu tự kỷ (autism). Tôi được ở trọ trong ngôi nhà của Tổng giám Mục Hà Nội. Ngôi nhà này không phải là một toà nhà cửa đóng then gài. Suốt ngày ngôi nhà mở rộng cửa cho mọi người dân, đón tiếp mọi tầng lớp xã hội, thậm chí những cha mẹ đem con lên Thủ Đô khám bệnh, nhưng không có đủ tiền thuê quán trọ nghỉ đêm.
Điều làm cho tôi xúc động rất mạnh là khi vị Tổng Giám Mục dâng lể ban sáng, một thầy phó tế là người có nhiệm vụ chia sẻ tin mừng cho vị chủ tế và toàn thể cộng đoàn dự lễ. Người lớn nhất khiêm cung lắng nghe người nhỏ nhất rao giảng Tin Mừng cho mình. Lại một lần nữa, tôi có dịp chứng nghiệm thế nào là lãnh đạo chiều ngang, trên vùng đất thuộc văn hoá Sông Hồng, trong lãnh vực sống Đức Tin giữa lòng dân tộc con Rồng cháu Tiên.

***

Em thân mến,
Tôi đã xúc động bày tỏ cho em về những trải nghiệm của mình trên suốt chặng đường trở về với chiếc nôi văn hoá Sông Hồng. Tôi đã kể lại những gì mắt thấy, tai nghe, và hai tay tiếp cận cũng như cảm nhận về vùng đất Huyền Sử là Thủ Đô Hà Nội và các vùng kế cận. Để em có thể lãnh hội thế nào là “ vùng đất Huyền Sử”, tôi đề nghị em hãy tìm xem cuốn phim của walt Disney đang được trình chiếu ở Việt Nam trong suốt mùa hè này. Cuốn phim bắt nguồn từ tác phẩm của tác giả người Anh là Carl Lewis “ the chromicles of Narnia”
Cô bé Lucy vào một ngày mưa, đã tham dự trò chơi trốn tìm với chị và hai anh. Vào ẩn núp đằng sau một cánh cửa của tủ áo quần, Lucy đã từ từ tiến lên và khám phá một vùng đất huyền thoại. Trong xứ sở ấy, loài vật biết nói, những hàng cây lam công việc đưa tin từ địa điểm này qua địa điểm khác, bằng cách gửi đi những trận mưa hoa trắng tinh và nhẹ nhàng. Một con Sư Tử sẳn sàng xuất hiện, để bên vực những người anh chị em bị đe doạ và áp bức. Sau khi hoàn tất nhiệm vụ, con sư tử lại ra đi một cách thầm lặng và kín đáo. Ngược lại, một bà phù thuỷ rảo quanh khắp nơi để rình rập, đe doạ, đàn áp, trừng phạt, bắt bớ. Chỗ nào bà phù thuỷ đi qua, chỗ ấy tuyết rơi tràn ngập, mùa đông len lỏi vào trong mọi cuộc sống và làm khô cứng những tiếp xúc và trao đổi
Cô bé Lucy đã mang đến niềm hy vọng và niềm tin cho vùng đất khô cứng và tê liệt ấy. Với nước mắt và nụ cười, cô bé đã chuyển biến mùa đông bất tận thành mùa xuân vĩnh cữu. Chuyển biến huyền thoại đầy lớp rêu phong thành thực tại sôi động muôn màu, muôn sắc. Chuyển biến những con thú kỳ dị, lạ lùng, hì hợm… thành những người bạn thiết thân, những anh chị em biết chia sẽ và đồng hành.
Tất cả vấn đề còn lại đang đợi chờ em và tôi là khám phá và sáng tạo một cánh cửa, để “ vượt qua” và có khả năng “ thấy những điều vô hình” trên vùng đất huyền sử thuộc nền văn hoá Sông Hồng.

Hà Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2006
Tác giả: Nguyễn Văn Thành

Thứ Tư, 20 tháng 10, 2010

Lời Cản Ngăn Trên Lối Về

Ngại ngùng quá nếu bây giờ đến với Chàng. Biết nói sao? Đã đoan hứa rằng: Vâng, xin Chàng cứ đến, căn nhà tôi đây. Chẳng có gì ngọt ngào êm ái bằng cung điệu yêu thương Người phổ vào tim tôi. Ôi, Chàng biết hồn tôi tha thiết trông mong. Trí khôn tôi mòn mỏi đợi chờ. Biết nói sao đây. Ôi, ngại ngùng quá nếu bây giờ đến trước mặt Chàng.
***
Chàng bảo Chàng sẽ đến thăm. Tôi đã ríu rít căn dặn: Hoàng Tử ơi, xin đem theo những cơn mưa trĩu nặng yêu thương, xin đem theo ánh sáng. Chàng nhìn tôi ấm cúng. Tôi chẳng hiểu gì trong đôi mắt thinh lặng ấy.
Chàng ơi, dù khuya khoắt chong đèn tôi vẫn hằng tha thiết. Dù giấc ngủ dỗ dành, tôi vẫn kiên nhẫn đợi chờ. Hoàng Tử Chàng ơi, Chàng có biết tình yêu của tôi đối với Chàng thấm thía dường bao. Chàng nhìn tôi ấm cúng. Tôi chẳng hiểu gì trong đôi mắt thinh lặng ấy.
Tôi lại ríu rít căn dặn: Hoàng Tử ơi, khi đến thăm, xin đem theo khúc nhạc bình yên. Xin đem theo mật ong và rượi nồng túy lúy, để tôi ngủ say trong tay. Chàng lại nhìn tôi ấm cúng. Tôi vẫn chẳng hiểu chi trong đôi mắt thinh lặng ấy.
Rồi Chàng đã đến. Cửa nhà tôi đóng. Giấc ngủ Lọc Lừa và Tình Yêu Lãng Quên đưa tôi vào Lỗi Phạm. Trên cánh cửa chỉ vỏn vẹn một vuông giấy nhỏ: Đức Vua và Ta đã đến, nhưng chẳng ai có nhà. Ôi, Chàng đã nhìn tôi ấm cúng, còn tôi, tôi đã chẳng hiểu gì trong đôi mắt thinh lặng ấy!
Bây giờ biết nói sao. Ngại ngùng quá nếu đến trước mặt Chàng. Tôi nghĩ ngợi quá chừng. Nhưng tôi chẳng thể xa Chàng được. Tình yêu đã gắn bó từ thuở nào, tôi không biết. Tôi chỉ thấy rằng xa Chàng là nhớ thương. Mất Chàng là Cô Đơn. Tôi biết tôi đã thất hứa, nhưng yếu tính của tình yêu là tha thứ cơ mà. Nghĩ thế, tôi ngập ngừng bước chân đi tìm Chàng. Tôi bồi hồi bước vào Hoàng Cung.
Thưa Đức Vua, từ cung lòng mẹ, con đã là người bất chính. Từ Địa Đàng thuở xưa cha con đã là Lỗi Phạm, và tương lai con, từ đấy phảng phất tình buồn. Đức Vua nhìn tôi ấm cúng. Tôi chẳng hiểu gì trong đôi mắt trĩu nặng trầm thương ấy.
Tôi cất tiếng gọi: Hoàng Tử ơi, nếu Chàng yêu tôi tha thiết sao chả gọi tên. Người biết từ thuở trăm năm tên tôi là Yếu Đuối, nếu Chàng yêu tôi tha thiết sao chẳng gõ cửa gọi tên.
Hoàng Tử ơi, xin đừng chê tôi nghèo nàn xấu xí. Ôi, Người biết tình yêu của tôi dành cho Người. Chàng lại nhìn tôi ấm cúng. Tôi chẳng hiểu gì trong đôi mắt trĩu nặng trầm thương ấy.
Xin hãy đến một lần nữa. Và nếu thấy ngủ say, xin gõ cửa gọi tên. Hoàng Tử, Người có hiểu tình tôi dành cho Người?
- Hiền Nương ơi, tình người có chân thật?
- Ôi, Hoàng Tử, tôi tha thiết yêu.
- Ta e sợ tình Hiền Nương chẳng đủ.
- Hoàng Tử ơi, cánh tay Chàng cho tôi Bình Yên. Hình bóng Chàng khỏa lấp nỗi cô đơn hồn tôi. Hoàng Tử, tôi sẽ buồn biết bao nếu người nghi ngờ tình tôi.
- Hiền Nương, ta sẽ đem theo mật ong và rượi nồng, ánh sáng và nhạc vui. Ta sẽ tặng người tình yêu bằng cả trái tim ta.
Ôi, ai diến tả được hạnh phúc hồn tôi. Tôi nghe như vũ trụ cùng say. Chung quanh đây là yêu thương ngây ngất. A, ha ta sẽ uống rượi nồng và nhạc khúc réo rắt bao quanh. Tôi reo lên như thế. Chàng nhìn tôi ấm cúng. Nhưng tôi, tôi vẫn chẳng hiểu chi trong đôi mắt trĩu nặng xa xôi ấy.
***
Từ đấy tôi cất tiếng hát rong chơi, hí hửng chờ đợi Chàng. Từ đồi cao lộng gió, tôi thấy tình Chàng mênh mông. Từ biển rộng sóng ầm, tôi thấy tình Chàng uy dũng đánh ngã quân thù tôi. Tôi thênh thang trong niềm vui cứu độ. Với giọng hát Người dạy, tôi ngâm nga những bản diễm tình ca và các chàng trai trẻ đã tặng tôi những lời quý mến. Bác nông phu cho tôi lúa miến và bánh thơm. Với cây đàn và cung điệu hiền hòa bên nương dâu, bạn bè đã thêu dệt cho tôi những áo choàng quý giá. Những trưa hè êm ả, tôi đọc cho vị hiền sĩ những bản thơ sầu của thánh vương Đa Vít và người đã tặng tôi pho sách người viết bằng cả cuộc đời. Với áo đẹp, tôi nghiêng mình bên dòng suối và mỉm cười. Với bánh thơm và rượi nho của bác nông phu, tôi chẳng lo kiếm tìm ngày mai. Với pho sách của vị hiền nhân, tôi ngồi bên dòng suối lần giở từng trang thư tịch.
Vòng tay ngắn tôi đã ôm trọn địa cầu. Với tiếng ca, tôi ru đời hạnh phúc vào những tấm lụa thời gian mát tươi.
Ôi, ta sẽ uống rượi nồng và nhạc khúc réo rắt bao quanh. Ôi, Chàng sẽ quàng tay ta và ta mềm mại tựa đầu bên trái tim ngập như tình yêu của Chàng. Chàng bảo nếu có ngủ say thì Chàng sẽ gọi. Với ý nghĩ ấy tôi bồi hồi quá lắm.
2
Những bản tình ca buồn thường ra đời trong mùa thu. Vì mùa thu thường là mùa của những tình yêu không trọn vẹn. Mùa của lá vàng bâng khuâng. Của mây trắng cô đơn. Của những chân trời tím lao xao vô định. Mùa của những đốm hoa nắng mỏng manh. Gió thu không mạnh nhưng lá thu rất dễ dàng buông cánh. Nên tình yêu trong mùa thu thường là những tình yêu nức nở. Vâng, vào một chiều thu ấy tình yêu tôi đã khóc. Một chiều thu mà có người thanh niên lạ đến hỏi.
- Xin chào Hiền Thư, Hiền Thư đi đâu mà như vui quá lắm?
- Ô, ta đợi Đức Vua và Hoàng Tử.
- Đẹp biết bao! Đẹp biết bao!
Gã kêu lên như thế. Với cung cách lạ lẫm hắn làm quen:
- Từ đâu mà Tiên Nương có những áo đẹp quý phái thế. Lại với tiếng ca tuyệt vời nữa. Chắc là Hoàng Tử phải ưng ý lắm.
- Ô kìa, sao ngươi biết ta đang đợi Hoàng Tử?
- Bóng Tiên Nương đã làm sao xuyến bạn bè ta. Cỏ lá và chim hoa đã mãi luyến nhớ bước chân Hiền Thư đi qua.
Chẳng quen biết gì hắn. Tự nhiên tôi cũng thấy vui vui khi nghe lời hắn khen. Rồi nữa, tôi thấy một chút gì hơi gần gũi, dường như hắn chẳng phải là quá xa lạ nữa. Tôi nhìn người thanh niên rồi nói.
- Thôi chào nhé, tôi đi đây.
- Hiền Thư đi đâu mà vội vã?
Hắn mời gọi níu kéo. Nhưng tưởng đến niềm vui gặp gỡ, tôi ứ trào hạnh phúc trong ý nghĩ thầm thì: Ta đi đón Đức Vua. Ta sẽ uống rượi nồng và mật ong ngọt ngào. Tôi giã từ rồi đi.
3
Thời gian êm đềm như giòng suối nhỏ, mịn màng như dải lụa hồng nắng thu. Ngày ngày, tháng tháng tôi bình yên ca hát. Cỏ xanh trên đồi chở rộng niềm vui. Những bát ngát của khung trời chờ mong cho tôi phiêu lãng vào hạnh phúc mênh mông. Với trái tim an bình, tôi tựa đầu bên nắng chiều nhìn từng đàn chim dịu hiền buông cánh qua tháp chông giáo đường. Tôi thì thầm lời cầu nguyện thiết tha.
Rồi một ngày kia. Cánh đồng vàng ối lúa mùa. Các bác nông phu nhễ nhãi mồ hôi trong niềm vui hoan hỉ. Lẫn lộn trong đãm người trên cánh đồng tôi lại gặp hắn. Người thanh niên lạ lẫm đã gọi tên tôi là hiền nương thuở xưa. Hôm đó cũng là một buổi chiều thu.
- Xin chào Hiền Thư, Hiền Thư đi đâu mà như vui quá lắm?
- Ô, ta đợi bước chân Hoàng Tử, ta sẽ uống rượi nồng và nghe nhạc khúc réo rắt bao quanh.
- Hiền Thư ạ, chắc Hoàng Tử đánh lừa đấy thôi.
Lời hắn nho nhỏ. Hắn nhìn tôi trong ánh mắt u trầm. Giọng hắn nghĩ ngợi xa xôi. Tôi thấy hắn như có lo lắng cho tôi thật nhiều. Hắn nói tiếp se sẽ:
- Đã bao ngày tháng sao Hoàng Tử chẳng đến. Hay là... Hoàng Tử đánh lừa đấy thôi... Ta thấy Hiền Thư vẫn mãi hoài cô đơn.
Tôi thấy tổn thương khi hắn nghi ngờ tình yêu của Hoàng Tử. Tôi đáp trả lại hắn.
- Không. Ta chẳng cô đơn. Đợi chờ là khởi điểm của gặp gỡ, mà gặp gỡ là hạnh phúc thì chờ đợi là yêu thương bắt đầu.
- Ôi, cuộc đời Hiền Thư đẹp quá. Ta xin góp lời mừng vui. Cầu mong Hoàng Tử chóng tới đem theo ánh sáng và nhạc vui phổ đầy căn nhà nhỏ xinh xinh.
Tôi chưa kịp nhận định lời hắn, thì gã lạ mặt, với một chút nuối tiếc hỏi tôi:
- Mà này, sai Hiền Thư mãi chẳng trở về căn nhà nhỏ? Ôi, từ ngày Hiền Thư bỏ đi căn nhà nhỏ buồn bã làm sao. Mỗi lần đi ngang đấy tôi bùi ngùi nhìn thềm hoa rêu phong. Khu vườn đã úa tàn rồi Hiền Thư ạ. Bao người đều nuối tiếc thương mến Hiền Thư.
Người thanh niên u sầu trong ánh mắt như chân thành và thiết tha. Một ý nghĩ nho nhỏ thoáng về trong tôi. Những nhớ nhung mờ ảo đâu đó về gần.
Căn nhà nhỏ? Ừ nhỉ, căn nhà nhỏ. Từ ngày ta bỏ đi đến nay không biết bây giờ ra sao. Căn nhà của bao nhiêu năm tháng quen thuộc. Của buồn vui hạnh phúc. Cánh cửa gỗ ấy Hoàng Tử đã gõ. Trên vuông của sổ ấy đã từng đêm ta ngồi đọc sách, thì thầm lời nguyện yêu thương gửi Chàng. Cây đèn đồng với ánh lửa thật ấm đã bao mùa hiu quạnh? Biết bao kỉ niệm. Căn nhà nhỏ. Ừ nhỉ, căn nhà của đợi chờ, mà cũng của... Lỗi Phạm...
Tôi thương nhớ bồi hồi.
Gã lạ mặt tiếp lời:
- Hiền Thư ạ, thế nào lần này Hiền Thư cũng gặp Hoàng Tử. Vì Chàng đã đoan hứa cho dù Hiền Thư ngủ say thì Chàng cũng gõ cửa gọi tên?
- Nhưng người ạ, tôi chẳng muốn trở về căn nhà đó nữa, căn nhà của sợ hãi vì u mê Lỗi Phạm.
- Ô kìa, vì sao vậy?
Chẳng trả lời câu hỏi của gã thanh niên, tôi bùi ngùi run mình khi nghĩ đến đêm u hoài lỗi hẹn. Tôi nghĩ đến buổi sáng dầy đặc đau buồn khi nhìn thấy mảnh giấy tạ từ của Tình Quân: Đức Vua đã đến nhưng chẳng ai có nhà. Tôi muốn òa khóc. Rồi thành thực tôi kể cho người khách lạ nghe:
- Chàng ạ, vì lãng quên say sưa trong căn nhà Tập Quán ấy mà ta đã Lỗi Phạm. Đã để Hoàng Tử gõ cửa đợi chờ và Người đã bỏ đi. Ta chẳng thể thiếu Người. Đời ta đã gắn bó với Chàng từ thuở mù khơi. Căn nhà quen thân nhưng làm ta sợ hãi. căn nhà Trú Ngụ nhưng cũng là Ngục Tối giam hãm đời ta.
- Tôi hiểu lòng Hiền Thư. Nhưng sau lần ấy Hoàng Tử đã đoan hứa, cho dù Hiền Thư có vì chờ đợi mỏi mệt ngủ say thì Hoàng Tử sẽ gõ cửa gọi tên. Chàng nói Chàng yêu Hiền Thư. Vậy đâu là minh chứng của tình yêu? Hãy trở về căn nhà xưa đi. Mảnh vườn hoa cũ đang chờ mong. Bao người thương nhớ hỏi thăm.
4
Tôi trở về chờ đợi trong căn nhà Tập-Quán-Yêu-Dấu. Nghĩ đến vòng tay Hoàng Tử mà lòng tôi chơi vơi. Tôi tưởng tượng tiếng vó ngựa reo vui. Bước chân dịu hiền. Giọng đàn ông trầm ấm. Nụ cười thiên thư. Bàn tay chiều chuộng gõ lên cửa: "Hiền Nương." Tôi chạy ra mở cửa. Ôi hạnh phúc ùa ập. Mật ong. Rượi nồng. Ánh sáng. Nhạc vui.
Căn nhà đã hồng mát sau bao ngày phai nắng đong mưa. Giàn hoa Ảo Tưởng bắt đầu trổ nụ. Mầu tím dịu của nhánh Đam Mê đã lan rợp vuông của nhỏ bên bàn viết. Thời gian đợi chờ là tháng ngày sửa soạn. Tôi đã đem về đủ mọi sắc hoa, cỏ quý. Mầu trắng dịu của khóm Thờ Ơ. Mầu xanh lá mạ của đóa Nhan Sắc. Tất cả như một nụ cười mát tươi. Nắng rung rinh trên khóm hoa Dấu Diếm. Nắng trải rộng bên vườn bông Kiếm Tìm. Khóm hoa Kiêu Sa than thở trước gió như lãng mạn với thời gian.
Có cả một loài hoa rất buồn, loài hoa mà mỗi lần ngắm nhìn là mỗi lần hoài cảm. Hoa hiền hòa, sắc hoa mầu trầm. Hoa xinh xinh để mỗi lần nhìn là tôi thương mến. Hương hoa thoang thoảng, để tôi nhẹ nhàng yêu dấu. Hoa có tên buồn như chính dáng hoa: Hoa Chia Ly.
Căn nhà nhỏ và vườn hoa ngủ dịu trong tháng ngày đợi chờ. Những con trăng 16, 18, 20... đã buông cánh đậu bình yên trên thềm cửa chờ mong.
Khi tôi rất hài lòng nhìn ngắm công trình của mình thì cũng là lúc người thanh niên thuở xưa đi qua. Vẫn dáng điệu ấy, một mái tóc bồng. Nụ cười kín đáo. Đôi mắt tinh anh.
Bên nắng hanh chiều gã nhìn khu vườn thầm lặng. Dáng cao ngạo tự tin. Gã đứng nhìn cho tới khi tôi lên tiếng hỏi:
- Chào người.
Gã mỉm cười nhìn tôi quen thuộc:
- Khu vườn đẹp quá Hiền Thư ơi... Nhưng...
Gã bỏ lửng câu nói yên lặng. Tôi nhìn. Thắc mắc, tôi hỏi gã:
- Nhưng rồi sao?
Hắn trả lời chậm rãi. Không nhìn lên tôi. Như hắn nói một mình:
- Hoa là biểu tượng của úa tàn!
- Sao người nói vậy?
- Đây là ý của riêng tôi. Hiền Thư muốn biết vì sao tôi nghĩ thế?
- Nếu được xin người góp ý.
Gã thanh niên bứt một nhánh cỏ non. Nhánh cỏ mềm mại ngủ yên thân phận trong lòng bàn tay. Hắn thủng thẳng nói, trầm ấm, tự nhiên:
- Hiền Thư thấy đó, bên ngày cưới, người con gái nào cũng ôm một bó hoa tươi: Hoa và tiếng cười. Ngày u ám bên nghĩa trang, người ta đem trả lại nàng: Hoa và tiếng khóc. Bước vào yêu, tình nhân cài lên tóc nhau một bông hoa trắng. Thì thầm lời ngọt yêu đương. Yêu em dáng đẹp thiên thần. Nhưng Hiền Thư ơi, mầu trắng có là mầu của tang chế hắt hiu?
Người ta bảo rằng mầu hồng là mầu của tình yêu chín mọng. Nhưng Hiền Thư ạ, khi cánh hồng úa tàn chính là mầu hồng của máu khô.
Tặng nhau một đóa hoa là gửi cho nhau nỗi úa tàn khi cánh hoa rũ bã. Đấy, Hiền Thư có thấy ly biệt đã khởi đầu trong hạnh phúc chập chững.
Hiền Thư ạ, khi Eva chưa đến thì Ađam cô độc nhưng không cô đơn. Nàng đến như một cánh hoa nhưng chính là lúc Ađam thấm thía đau khổ là gì, và nỗi cô đơn của chàng mênh mông.
Lời gã thanh niên ngọt ngào. Hắn nói bằng cả tâm hồn. Trông hắn mà dễ thương. Trái tim hắn như đang trĩu nặng tâm tư của gã nghệ sĩ đã khóc vì yêu. Tôi nhìn giàn hoa Chia Ly dập dờn theo gió. Một vài đốm lá rơi rơi, nằm im lìm trong khe dậu thưa. Gã yên lặng. Tôi hỏi:
- Thật như thế sao?
- Đấy là ý nghĩ của riêng tôi. Nhưng chắc chắn: Cành hoa nào cũng phải tàn!
- Làm sao để hoa sống mãi?
- Chẳng làm thế nào được đâu, chỉ có một loài hoa bất tử: Hoa Tình Yêu. Nhưng để hoa đẹp mãi thì chính người trồng hoa phải chết. Hoa Tình Yêu rực rỡ bởi Hy Sinh. Mà Hy Sinh là đóng đinh chính mình. Ôi khó quá, tôi chẳng nói được đâu. Tôi chỉ có thể cho Hiền Thư biết một chút tri thức. Nhưng sự hiểu biết trong Tình Yêu chính là Sống và Cảm Nghiệm...
Dường như tôi đã quá lời? Xin lỗi Hiền Thư nhé. Tôi đi đây. Chúc Hiền Thư những ngày đẹp. Nhưng vườn hoa úa tàn trước khi Tình Quân đến thì sao? Cẩn thận...
Hắn rảo bước, để lại cho tôi ánh nhìn cảm thông. Tôi thoáng thấy mỏi mệt. Buổi chiều như đang vương tơ. Bóng gã đi xuống dáng chiều. Nụ cười của hắn vẫn còn đâu đây, e dè khó hiểu. Và lời của hắn: Hiền Thư ơi, hãy cẩn thận!
Rồi bóng gã xa khuất. Mầu lam tím ở chân trời đậm hơn. Lời nói của gã theo bóng tối dâng lên mung lung, âm u. "Cánh hoa nào rồi cũng phải tàn". "Hoa và tiếng khóc". "Chỉ có một loài hoa bất tử: Hoa Tình Yêu". "Nhưng để hoa Tình Yêu đẹp mãi thì chính người trồng hoa phải chết". "Hoa Tình Yêu rực rỡ bởi Hy Sinh".
Đêm xuống, tôi bước vào giấc ngủ chập chờn. Lời gã nói làm tôi mất an vui. Băn khoăn và dằn vặt đưa tôi vào giấc ngủ có bóng dáng gã. Trong giấc mộng ngoài tầm hiểu biết ấy, giọng gã quyến rũ nói bên tai tôi:
- Hiền Thư ơi, Hoàng Tử sẽ vui biết bao khi thấy Hiền Thư đón Chàng bằng những sửa soạn chăm chú. Tình yêu cần minh chứng. Minh chứng xác định giá trị tình yêu. Nhưng mà kìa, sao tôi chẳng thấy Hiền Thư thêu gấm hoa trên rèm cửa để Hoàng Tử đi qua. Hiền Thư đã sắm bình vàng để uống rượi quý chưa? Ồ, mật ong do chính ong mẹ đã làm thì phải uống bằng chén ngọc thạch bích vân. Với khúc nhạc réo rắt bao quanh thì phải có hương trầm trong lò sưởi hồng tí tách chiều đông. Chỉ có những dây đàn bằng vàng ròng mới xứng đáng cho Hoàng Tử đặt tay so phím.
Đấy là tất cả minh chứng của tình yêu. Mà này Hiền Thư, đừng quên khóa cửa cho chắc, cài then cẩn thận, kẻo kẻ trộm lẻn vào lấy hết, và Hoàng Tử đến thì căn nhà trống trơn.
Dường như tôi đã quá lời? Xin lỗi Hiền Thư nhé. Tôi đi đây. Chúc Hiền Thư những ngày đẹp. Hãy cẩn thận. Khóa cửa cho chắc Hiền Thư ơi.
Giấc mơ đi qua đưa tôi vào bàng hoàng hỗn độn. Bóng người thanh niên ám ảnh trong tâm trí tôi. Lời hắn nói u huyền kín đáo. Tôi dè dặt với những đề nghị mới. Nhưng trong tôi như khấp khểnh với niềm vui khám phá, "bình vàng để uống rượi quý". Ừ, gã nói có lí lắm. Phải sắm bình vàng. Phải tìm trầm hương...
5
Cánh cửa căn nhà nhỏ đã được thay thế bằng gỗ trắc bá lấy từ rừng già Cám Dỗ. Nghe theo lời người thanh niên dặn dò, những ổ khóa đã được đúc, những then sắt đã được cài.
Vâng, những ổ khóa đã đúc, những then sắt đã được cài.
Nửa đời nhìn xuống đôi tay, ngón áp út thon nhỏ vẫn đợi chờ. Thời gian nhẹ nhàng phổ nhạc đi qua. Chờ mong với rung cảm bồi hồi. Bao giờ thì Chàng sẽ đến. Lâu hay mau. Mùa xuân này hay mùa thu tới. Biết đâu chiều nay? Ngày tháng như cuốn lụa tròn, êm ả nhẹ nhàng. Tôi đợi chờ cho đến một đêm lạ nhất trong đời. Một đêm không ngờ xét đoán. Trong giấc ngủ bồi hồi với một chút bối rối trong cơn say, tôi nghe mơ màng tiếng gọi.
- Hiền Nương! Hiền Nương!
Tôi giật mình bàng hoàng nghe ngóng.
- Hiền Nương! Hiền Nương!
Đúng rồi Hoàng Tử của tôi. Không gian như mất ý niệm. Tôi sung sướng quá đỗi. Tôi cuống quýt để cho hạnh phúc sóng sánh. Đúng rồi, tiếng gọi của Chàng. Linh cảm cho tôi thêm xác tín. Nhiệm mầu của con tim cho tôi thêm sự thật. Chính là Tình Yêu tôi đợi chờ. Chàng đã đến. Ôi, ai diễn tả được hồn tôi. Muốn ra khỏi giấc ngủ, căn nhà phủ đầy bóng đen. Rượi hồng cho tôi vào cơn say mộng mị. Tôi lại nghe tiếng nghi hoặc của lòng mình. Có phải tiếng Chàng vẫy gọi?
- Hiền Nương, sao mãi ngủ say. Có nghe rộn ràng tình yêu bước chân ta đến.
Tôi muốn réo tên Chàng: Hoàng Tử ơi. Nhưng lạnh lùng, tiếng tôi mất hút trong không gian. Âm thanh không vang thành tiếng. Tiếng gọi của tôi như đầu kim nhỏ lao vào không gian vô tận. Tôi bập bùng trong thế giới nghi hoặc, u uẩn. Tôi nghe như có nốt nhạc sắc vi trên cổ con tuấn mã mà Hoàng Tử đã cỡi. Tôi cũng nghe như có gió bão cát bay. Tôi không phân biệt được âm nhạc và bão tố. Tiếng gọi của Chàng, vang vang, uy nghiêm. Âm thanh của tôi hụt hẫng. Tôi sợ hãi réo gọi. Tiếng gọi mất hút. Hoàng Tử chẳng nghe thấy gì. Dường như Chàng lại vẫy gọi:
- Hiền Nương, sao mãi ngủ say. Có nghe rộn ràng tình yêu bước chân ta đến.
Căn nhà tôi là một thế giới đen mênh mông, không chân trời, bóng tối mút mút. Tôi ghê rợn vùng chạy. Đâu là lối ngõ. Chiếc đèn đồng đã tắt. Dầu đã cạn. Tôi vấp ngã. Chung quanh là mù ảo chơi vơi. Tôi bấp bênh trong không gian vô xác định. Bước chân sa hút. Những chiếc bình ngọc va đập vào nhau rớt đổ. Từng mảnh thủy tinh sắc bén rơi vãi trên nền thảm mù đen. Máu đã vương vấn trên riềm the lụa gấm. Tôi quờ quạng để cho mảnh thủy tinh miết ngang dọc trên đôi tay. Bóng đen. Máu. Sợ hãi. Tôi đưa tay vuốt mặt. Những dòng máu nhờn chẩy nhờn loang lổ chẩy xuống môi.
Những cám dỗ lo âu, những sợ kẻ trộm lén vào chờ đêm khuya mở cánh cửa đánh cắp bình bạc, chén vàng nên tôi đã cất giấu mỗi chìa khóa một góc tối hiểm hóc. Bao nhiêu vòng khóa đã khép chặt? Bây giờ ở đâu những chìa khóa đồng?
Tôi bùng chạy. Đổ vỡ. Tôi khóc.
- Hiền Nương, sao mãi ngủ say. Có nghe nhiệm mầu tình yêu bước chân ta đến?
Tôi nghe như đúng tiếng Chàng. Tôi xô vào bóng đêm. Có phải thật sự tiếng Chàng hay chỉ là giấc ngủ mộng mị? Men nồng và giấc ngủ chập chùng đưa tôi bơi trong không gian dị kì. Những bình hoa sứ đập vào nhau loảng xoảng ghê rợn. Bàn tay ê ẩm. Máu. Tôi cố tìm phương hướng nhưng dường như men say ban chiều đưa tôi vào vùng biển bập bềnh. Nhấp nhô thực hư.
Không còn nghe tiếng gọi nữa. Hình như nốt nhạc con tuấn mã cũng đang mờ nhạt. Xa dần. Hình như Hoàng Tử sau khi gõ mà cửa không mở, Chàng đã bỏ đi.
Một tiếng cười sặc sụa của Satan vang lên. Bóng gã đàn ông hiện ra. Chính gã thanh niên thuở xưa. Vẫn khuôn mặt ấy. Nhưng không còn lời nói nhẹ nhàng êm dịu. Hắn nhăn mặt cười ngạo nghễ trong ánh sáng xanh lẹt của loài quỷ dữ. Tóc rối bù. Đôi mắt ngầu đục. Hắn nhìn tôi rồi lại cất tiếng cười rừng rú. Tay xách trái tim rực màu đỏ, máu còn chẩy liễu thễu.
Hắn hiện ra giữa căn nhà, cười sặc sụa từng cơn. Bấy giờ tôi mới hiểu rõ hắn là ai, tại sao hắn đã theo dõi tôi mãi trong đời.
Nguyễn Tầm Thường

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2010

Ngưòi Khách Và Con Tầu

Chiều đã xuống bên kia rừng. Mầu tím loang dần ở chân trời. Thấp thoáng trên những lớp lá già bụi mốc một vài tia nắng cuối. Người khách đứng nhìn lãng đãng, tâm tư đáo dức. Dáng điệu của hắn có nỗi buồn riêng giống như ngọn đồi chiều nay im lìm trong hoàng hôn trước mặt hắn.


Con đường sắt trầm mặc dài hút mù, bò qua chân đồi, rẽ vào khu rừng thưa rồi đi xa thẳm.


Trên bến ga nhỏ người thanh niên không hành lí đứng dựa vào gốc si già. Đôi mắt dõi nhìn phía xa, tha thiết. Chàng lẩm bẩm:


- Bao giờ thì tầu sẽ tới?
Đêm nay hay đêm mai?
Hôm nay hay còn lâu?


Những sợi nắng cuối cùng đang tan. Sân ga cô độc. Chàng chờ đợi một mình. Bụi lau lưa thưa ngả nghiêng mệt mỏi. Một vài làn gió xuống theo triền đồi đưa những chiếc lá úa lìa cành, như những cuộc đời lẻ loi lặng lẽ giã từ cuộc sống. Trên khu đồi lam xám, những cánh chim đêm bay về phía bắc.


Bên bờ đá, chàng ngồi chống khuỷu tay lên đầu gối. Gương mặt lúc nào cũng nghĩ ngợi. Vài bóng chuồn chuồn bay lượn lờ, rồi cũng bỏ lại sân ga, buông cánh vào một không gian xạm tối.


Đôi mắt băn khoăn nhìn về phía cuối rừng, nơi tuyến đường đi qua, chỗ mà con tầu sẽ tới. Đôi lúc hắn lững thững trên bến ga nho nhỏ, nhưng rồi lại trở về bờ đá, ngồi đợi chờ.


Hắn từ đâu đến? Chẳng ai biết. Người ta chỉ đoán được rằng, chắc hắn đã về từ phía thành phố. Hắn có vẻ thư sinh, ngoài phía cuối rừng hắn hay trầm ngâm về phía tây, nơi ánh điện tỏa sáng. Hắn nhìn nhiều lần, lần nào cũng kết thúc bằng một cái quay mặt, như nuối tiếc nơi vừa bỏ đi mà vẫn cương quyết từ chối không trở lại. Có lúc hắn đang nhìn tha thiết về hướng thành phố, bỗng nhiên hắn giật mình ngó vội theo con đường như chợt nghe tiếng hú còi tầu. Dường như hắn đang chờ đợi con tầu tha thiết lắm.


Nét mặt hiện những nét tài ba đặc thù. Gió đưa vài sợi tóc lòa xòa xuống vừng trán làm khuôn mặt chàng pha điểm chút mềm mại. Lúc lững thững trên bến ga, lúc đứng bất động nhìn lên khu đồi, hắn có hồn của một nghệ sĩ. Lúc ngồi thầm lặng, người ta lại thấy hắn như một tù nhân rũ bã. Nhưng vùng trán tự tin, dáng hao gầy, hắn có nét đẹp của một gã thanh niên tuấn tú. Tuy nhiên, đôi tiếng thở dài cho ta thấy sự yếu đuối của một trái tim đa cảm.


- Bao giờ thì tầu mới tới?
Đêm nay hay đêm mai?
Hôm nay hay còn lâu?
Bên kia chuyến tầu là gì?
Vực-Sâu-Phiền-Trược hay Núi-Cao-Bình-Minh?


Trên bến ga, hắn vẫm một mình, lẩm bẩm. Đêm càng đêm thì ánh sáng của thành phố càng hồng. Tiếng hát của đường xưa và chiều mây lá ngủ. Bạn bè và niềm vui. Giấc mơ và ý nguyện. Hắn đang nghĩ ngợi. Hắn nhớ một vùng quen thân vừa bỏ lại.


Sân ga có mình hắn. Nhưng có lẽ không phải hiu quạnh của bến ga làm hắn buồn phiền, mà với từng lúc ngồi thừ, bàn tay xoa mặt, cái nhìn xa xôi, người ta có cảm tưởng rằng hắn đang bị dầy vò từ những ý nghĩ kín đáo gợn sóng mà trùng trùng sẽ sàng mà mãnh liệt, có an ủi nhưng cũng đau thương. Dáng háo hức đợi con tầu của hắn là một háo hức dường như có đe dọa sợ hãi hơn là mong chờ. Khảng khái bỏ lại phố thị tìm về đây là dũng cảm nhưng dường như vẫn là dũng cảm ngại ngùng. Cuộc chiến nội tâm giằng co giữa tiếng gọi của con tầu định mệnh mà chàng xác quyết là sẽ có và tiếng gọi của thành phố bảo chàng về là cuộc chiến không biên giới. Trong chiến trận mà kẻ chiến đấu là chính mình thì lưỡi gươm chinh phạt không dám thẳng tay chém xuống. Trong cuộc cam go mà những tiếng gọi giằng co xẩy ra trong một con tim thì bất hạnh của người nghe thấy tiếng gọi là muốn nghe đó, đồng thời lại mong cho nghe đừng rõ. Bởi, nếu nghe càng rõ thì lựa chọn càng phải dứt khoát.


Không gian yên tịnh trên vùng trời vắng. Bờ đá im lìm. Con tầu chưa thấy bóng. Rừng cây vô tư. Hắn ngồi im, dường như hắn bắt đầu quay quắt trong dòng lệ khô. Bóng đêm làm cho hắn có vẻ gầy hơn dáng người thật của hắn. Bờ cỏ dại nhẫn lại bình thản. Nhưng chúng nghe như có lời than:


- Thượng Đế của tôi,
Tôi xin trung thành và tha thiết.
Nhưng đâu là giờ tôi đến.
Xin chỉ bước tôi đi.
- Hãy vào sa mạc, ở đấy Ta sẽ nói cho ngươi phải làm gì.
Trong thinh lặng và tin tưởng ngươi sẽ tìm được sức mạnh cho tâm hồn.
Hắn thưa lại:


- Thượng Đế của lòng tôi,
Nhưng sự im vắng chiều nay làm tôi sợ hãi.
Bạn bè còn tha thiết.
Giấc mơ còn miết xanh.
Bỗng dưng cơ hồ như vang tiếng gọi.
Tôi đã về đây: Ôi bến tầu vắng.
Khi nào thì tầu sẽ tới: Đêm nay hay đêm mai? Hôm nay hay còn lâu?


Hắn vừa im thì từ rất xa, có tiếng vang. Hắn lắng nghe, sẽ sàng:


- Cuộc đời là những lựa chọn tiếp nối
Lựa chọn nào cũng bao hàm từ bỏ.
Từ bỏ đưa đến tiếc nuối.
Tiếc nuối thì ray rứt.
Nhưng lại là định luật: Sống là lựa chọn.
Con yêu,
Có những lựa chọn tương đối. Nhưng đời con còn một
lựa chọn tuyệt đối: Gian- Nan hay Hạnh-Phúc.
Lựa chọn hệ trọng: Thiên-Đường hay Hỏa-Ngục.
Bên kia cuộc đời:
Vực-Sâu-Phiền-Trược hay Núi-Cao-Bình-Minh.


- Vâng!


Hắn thưa như vậy rồi lặng thinh. Hắn muốn nói thêm một điều gì ngay nhưng lại thôi. Sẽ lắc đầu, hắn lấy tay che mặt. Trong tâm tưởng, hắn nhìn thấy biên giới sống và chết thật mong manh. Tuổi trẻ như sóng đang mùa nước lớn. Tung bót trắng xóa ngày đêm xô đổ thách đố những bờ đá cứng. Dường như cuộc chiến sẽ trường cửu. Lòng kiên nhẫn của sóng là vô cùng. Niềm kiêu hãnh của bờ đá cũng vô biên. Thế rồi, từ xa xa, tiếng hú của còi tầu. Rồi sóng cũng yên, bờ đá cứng như nghìn thu từ từ sụp xuống. Hắn thấy rõ cái không thể giải thích được đến và đi của sự sống. Cứ đến mùa là cây cối chồi sinh lộc non. Người ta có thể đếm những tờ lịch mà gieo mạ, cấy lúa. Nhưng Chuyến-Tầu-Định-Mệnh không nằm trong thời khóa biểu. Chàng không thể giải thích được, nhưng lại quá rõ ràng, chàng phải đối diện với chuyến tầu này. Và cơ hồ như đâu đây, có dáng dấp của con tầu.


Đêm mênh mông. Khu rừng thầm lặng vẫn thầm lặng. Tiếng quốc kêu rất thương vang vọng từ xa, lẻ bóng bên bìa đồi. Con đường sắt vẫn nằm yên đấy.


- Vâng!


Hắn lặp lại tiếng ấy một lần nữa. Không nhìn lên, khuôn mặt trong lòng bàn tay, hắn thưa:
- Thượng Đế của lòng tôi,
Tôi hằng chập chùng lo lắng...
những chiếc áo quan khép lại...
Một chiều thu xám lá rơi... một canh bạc tàn...
Ôi, tôi vẫn tự hỏi. Bên kia cuộc đời là gì:
Vực-Sâu-Phiền-Tược hay Núi-Cao-Bình-Minh.
Tôi vẫn giật mình sợ hãi khi đêm khuya đổ về.
Nhưng Người ơi,
bao giờ thì tầu sẽ tới, chuyến tầu của riêng tôi.


Từ bìa rừng lại có tiếng vọng về:


- Tình yêu tha thiết sẽ bao ngợp thời gian.
Niềm tin thực hành sẽ sẵn sàng chờ đợi miên trường.
Nghe xong hắn lắng đọng đợi chờ. Nhưng tiếng ấy không nói nữa. Khẩn khoản như một lời kinh, hắn ngậm ngùi thưa:


- Thượng Đế của lòng tôi.
Tôi xin trung thành và tha thiết.
Tôi muốn chờ đợi tiếng còi tầu để mở cửa căn nhà.
Nhưng kìa, Người có hay sự Lãng-Quên của tôi thì lớn hơn Trí-Nhớ
và sự Yếu-Đuối của tôi thì cao hơn tầm với.


Hắn chưa dứt lời thì đã vang vọng một tiếng đáp trả:


- Yếu đuối là ánh sáng để ngươi biết mình.
Biết mình yếu đuối là tiếng gọi bảo ngươi đến với Tình-Yêu.
Thật đấy, với Tình-Yêu chỉ cần một tư tưởng phản bội
cũng đủ để Tình-Yêu bỏ đi. Nhưng cũng với
Tình-Yêu, chỉ cần một giọt nước mắt ăn năn cũng đủ
để Tình-Yêu tha thứ gọi về.


Sau lời ấy chàng thanh niên đưa tay gạt lệ. Trong tiếng nghẹn ngào hắn thưa:


- Thượng Đế của lòng tôi,
Khiếu từ cuộc vui, trả lại lời ca cho phố chợ, tôi đã đến
đây chiều nay. Nhưng nếu Người chẳng tới. Nhưng
nếu tầu chẳng đến. Và bên kia cuộc đời không có
Vực-Sâu chẳng có Núi-Cao chỉ là miên viễn chiêm bao
thì Gió và Mây sẽ bảo tôi rằng: Buổi chiều dại dột.
Một hi sinh thừa.


Vô hình mà rạo rực cả núi đồi rừng sâu, tiếng mầu nhiệm đó đáp trả:


- Không có niềm tin, kiên nhẫn là thừa.
Niềm tin không kiên nhẫn là địa chỉ sai đường.


Nghe xong, tựa đầu lên bờ đá. Không gian cô đọng. Trăng bắt đầu ló bên đồi. Lá ngàn nằm mơ màng dưới ánh vàng của mầu trăng Giêtsimani. Sương không nhiều, nhưng sương khuya nên làm thấm lạnh người viễn khách. Khu rừng sâu đen thẫm. Bên đồi, ánh trăng mềm bàng bạc bắt đầu nhẹ nhàng thấm xuống ngàn cây. Thỉnh thoảng tiếng cuốc kêu thương. Tiếng kêu cô độc nhất của một con cuốc lẻ loi đang tìm đường. Tiếng kêu mỗi lúc một xa, nhỏ dần, như đang lên cao phía đỉnh đồi.


Chàng trai viễn khách quỳ tựa mặt vào bờ đá lạnh. Thời gian bình thản trôi xuôi. Im vắng. Hắng ray rứt suy tư. Hắn chưa bao giờ thẩm định kĩ niềm tin và kiên nhẫn là một hay là hai đấu thủ đối chọi nhau. Kiên nhẫn là dấu chỉ của lòng tin đã có hay chỉ là mệt mỏi gắng gượng của một chờ đợi không xác định. Khi tin rồi thì kiên nhẫn sẽ đến hay phải vất vả kiên nhẫn để niềm tin lớn.


Cây si già in bóng lên hình cỏ thưa. Ánh trăng mới nở, chỉ làm cho bóng si thành một đám mây mờ. Nhưng cũng đủ để bờ đá sáng lên, in rõ hình người thanh niên.


Bất giác, hắn chống tay ngẩng mặt dậy làm bóng trăng chao động, đổ dài trên nền cỏ. Phía sườn đồi những bụi lau đang rung rinh, lao xao.


Vừa lắc đầu, hắn vừa gọi thì thầm:


- Cuộc đời ơi, hãy đợi chờ. Ta sẽ trở lại...


Tâm tư hắn tràn về như dòng sông vừa mở cửa đập. Chàng ngó lại tháng ngày xây đắp công danh mà tiếc xót. Trong dòng nước mở đập trôi chẩy về tâm trí chàng ào ào, có ánh sáng của thành phố thôi thúc gọi chàng trở lại. Có bóng người đi trong rừng cờ giữa tiếng kèn hoan hô. Tại sao không phải là chàng? Nhớ lại những ly thủy tinh chạm vàng với rượi nồng và nhạc quý, chàng hối hận đã đến sân ga chiều nay. Bao nhiêu pho sách chàng đã góp nhặt trong đời. Tại sao lại một chiều bỏ ra đi? Người viễn khách trẻ nhìn về phái tây đang rực đèn. Linh hồn chàng lại réo gọi trở về.


Xô qua mấy lùm cây nhỏ, hắn tìm lối tắt băng ra khỏi sân ga. Bỏ lại ý nghĩ chờ đợi con tầu. Chàng không thể buông tay cho rơi xuống công danh đang dang dở. Nhưng chỉ chạy được một quãng ngắn, hắn ngã. Cố gượng dậy trong thế quỳ để giữ bước chân thăng bằng, ngoái cổ lại nhìn về phía rừng rồi hắn lập bập đứt quãng:


- Chuyến-Tầu-Duy-Nhất? Chyến-Tầu-Định-Mệnh?


Hình ảnh con tầu đang lao vun vút làm chàng rùng mình. Hắn nhìn thấy con tầu tàn bạo, vô cùng dã man đâm thẳng vào tương lai. Bên bờ rừng một gã đàn ông giơ tay gào thét vì trễ tầu. Con tầu không dừng lại. Gã đàn ông đập mình cúi lạy nhưng con tầu không cần biết. Tiếng gã đàn ông khan cổ gào thét nhưng con tầu phóng ga không một chút xót thương. Bến bờ định mệnh hun hút xa thẳm. Và khi con tầu đã lao đi thì tất cả chung quanh từ từ loãng ra như một đám khói mỏng. Đền đài, thành quách, những con đường ngàn dặm từ từ rút nhỏ rồi chẩy tan như thỏi nước đá dưới mặt trời. Chàng nhìn rõ cuộc đời mình và tất cả ước mơ vô cùng bền bỉ thế mà chúng tụ lại chỉ bằng một hạt bắp, rồi một tiếng nổ nhẹ, hạt bắp vỡ tung. Trong cùng giây lát không phải chỉ có bóng hình người đàn ông lỡ tầu gục đầu gào thét mà vất vưởng đó đây, khi chàng nhìn kĩ, có từng lũ người cũng đang vất vưởng vô vọng. Họ như những hồn ma khốn đốn không nơi cư trú.


Hình ảnh hãi hùng làm chàng lảo đảo, gượng dậy, chạy trở lại bờ đá cũ. Vừa tới nơi, hắn quỵ xuống, giang tay ôm miết lấy tảng đá gồ ghề. Bóng con tầu lao vun vút như sắp bỏ rơi hắn làm hắn càng bấu chặt vào vách núi. Gục đầu trên bờ đá khô cứng, hắn sợ hãi thưa:


- Thượng Đế của lòng con ơi,
Không! Không thể như thế được... Con không thể bỏ lỡ con tầu...


Trong lúc thổn thức, hắn còn nói thêm một điều gì nữa, rất khẽ, dường như lời ấy làm hắn sợ hãi.
Đất trời bình thản. Trên sân ga vẫn im lặng. Ở phía tây, thành phố vẫn lên đèn dặt dìu tiếng nhạc. Trong im vắng của một chờ đợi, chàng thấy tất cả chỉ xẩy ra trong thế giới thiêng liêng của linh hồn. Gió đến dạt dào rung rừng cây lao xao. Gió như sứ giả đem theo lời hắn, xuyên qua núi đồi làm nên những âm vọng uy nghiêm vang dội từng tiếng một. Chàng lại nghe rõ, cũng trong thế giới linh hồn. Lời hắn nói với lòng mình vang lên trùm cả khu đồi, âm vọng chẩy suốt theo đường tầu:


CHUYẾN TẦU DUY NHẤT.
CHUYẾN TẦU ĐỊNH MỆNH...


Thời gian trôi. Ánh trăng mỗi lúc mỗi lên. Bầu trời mênh mông. Rừng cây vời vợi không tiếng còi. Trên cao, xa thẳm, ngàn sao đang lấp lánh, và càng vào khuya sao trời càng thêm sáng.


Nguyễn Tầm Thường

Chủ Nhật, 25 tháng 7, 2010

Nụ Hôn Với Quỷ

Truyện dân gian Do TháiNguyễn Ước
dịch và chú thích
____________________


Thuở đó có một người nghèo chẳng giúp đỡ được gì cho con cái. Suốt ngày dài, y ngồi học sách Tô-ra* (Torah) trong hội đường*, và từ trước tới nay trong cuộc đời mình, y chưa bao giờ đặt chân ra khỏi thành phố nơi y sinh sống. Ngày nọ, bà vợ của y nói với chồng:
- Ông còn ăn không ngồi rồi cho tới bao lâu nữa? Tại sao ông không đi tìm một công việc nào đó mà làm, gần hay xa cũng được, miễn sao cứu cho chúng ta khỏi chết đói.
Người Do Thái ấy trả lời:
- Tôi biết làm gì bây giờ? Từ trước tới nay, tôi chưa hề đi quá cổng thành. Tôi sẽ lạc mất ở chặng đường đầu tiên. Thà là chết ở trong nhà còn hơn chết ở ngoài đồng!
Vợ của y nói:
- Ông đừng lo. Một khi đã ra khỏi cổng thành, ông chỉ việc hỏi bất cứ người nào ông gặp trên đường về phương hướng mà thôi.
Ngày nào bà vợ cũng nói hoài nói mãi chuyện đó cho tới khi người chồng hết chịu nổi. Y cầm lên cây gậy, ứa nước mắt nói lời từ biệt gia đình và lên đường, bước chân ra khỏi cổng thành.
Khi đi dọc đường vạn dặm, y gặp một kẻ dung mạo xấu xí, da ngăm ngăm đen. Người chồng và là Do Thái ngoan đạo ấy cất tiếng:
- Thưa ông, chúc ông một ngày tốt lành.
Kẻ da ngăm ngăm đen ấy trả lời:
- Còn ông, thưa ông, ông đang đi đâu vậy?
Người Do Thái ngoan đạo kể tên một thành phố nào đó. Kẻ da ngăm ngăm đen nói:
- Ông hãy đi với tôi; tôi sẽ chỉ đường cho ông.
Và như thế cả hai cùng đi bên nhau cho tới khi đến một nơi đổ nát, hoang tàn và cổ lổ. Đi qua khỏi nơi đó, cả hai vào một thành phố rộng lớn; ở đó, người Do Thái ngoan đạo nghe từ khắp mọi góc thành phố vang lên giọng đọc sách Tô-ra. Trấn tĩnh lại, y gõ lên cửa một ngôi nhà. Cửa mở và y được nghênh đón vào bên trong, tiếp đãi ăn uống như một ông hoàng và đối xử cực kỳ vinh dự.
Người Do Thái ngoan đạo ở lại đó cho tới đêm Thứ bảy* y cùng đi với gia đình tới hội đường. Người trưởng ca đoàn bắt đầu giờ phụng vụ buổi tối, và mọi kẻ trong cộng đoàn cùng cầu nguyện với y. Nhưng khi tới phần nghi thức kết thúc và y bắt đầu đọc lên lớn tiếng những lời rằng: “Cầu cho niềm hoan lạc của Thiên Chúa, Thượng đế của chúng ta, tràn đầy trên chúng ta”, thì mọi kẻ có mặt tại đó đều bỏ đi, để lại y trơ trọi một mình. Sự cố đó làm y ngạc nhiên tột độ vì toàn thể cộng đoàn ấy biến mất trong làn không khí mỏng manh, không để lại một dấu vết. Và trong khi ngồi ở đó suy nghĩ ủ ê, người Do Thái ngoan đạo chợt nhân ra rằng bọn chúng đều là quỉ sứ.
Ba giờ đồng hồ sau, chúng quay lại hội đường. Chúng hỏi:
- Ngươi làm như vậy nghĩa là gì? Có phải đó là cách ngươi báo đáp lòng tử tế của chúng ta? Tại sao như thế? Ngươi đã khiến cho chúng ta phải bỏ chạy xa tới bốn trăm ngàn lý!
Y nói:
- Xin đừng nổi giận với tôi. Tôi đã không nhận ra các ngươi là ai. Tôi van xin các ngươi tha thứ cho tôi.
Lũ quỉ nói:
- Chúng ta sẽ tha thứ cho ngươi với điều kiện ngươi đừng làm điều đó nữa.
Người ấy nói:
- Nếu phải như vậy thì xin vui lòng đối xử tử tế với tôi bằng cách dẫn tôi về nhà với gia đình mình vì nơi này không phải là chỗ dành cho tôi.
Lũ quỉ nói:
- Dứt khoát là không. Ngươi sẽ ở lại đây với chúng ta, lấy một kẻ trong chúng ta làm vợ, sinh con đẻ cái rồi cùng chúng ta nuôi dưỡng chúng tại nơi này. Chúng ta cũng sẽ chu cấp cho ngươi nhiều của cải và bất cứ thứ gì khác mà tâm hồn ngươi ao ước. Ở đây, ngươi sẽ chẳng thiếu một thứ gì.
Người Do Thái năn nỉ:
- Đừng khiến cho tôi phải làm như thế. Xin các ngươi vui lòng để cho tôi ra đi vì tôi có vợ có con ở nhà.
- Tại sao chúng ta phải màng tới chuyện đó?
Lũ quỉ hỏi ngược lại như thế, và chúng buộc người Do Thái ấy phải lấy một con quỉ cái làm vợ, làm hôn lễ với nó, ngủ với nó và có nhiều con trai con gái với nó.
Ngày nọ, người ấy nói với con quỉ vợ mình rằng:
- Anh van xin em hãy để cho anh về nhà gặp lại vợ con của anh.
Quỉ cái trả lời:
- Nếu anh hứa sẽ quay lại với em ngay, đừng ở lại đó dù chỉ một đêm, thì em sẽ đồng ý cho anh đi và còn cho anh một số tiền rất lớn, mang về cho họ để họ không cần phải lo âu tằn tiện nữa. Em cũng sẽ cấp cho anh một con ngựa đặc biệt; nó chỉ mất có nửa ngày là chở anh tới nơi đó. Nhưng chỉ với một điều kiện là anh đừng làm em thất vọng.
Người Do Thái trả lời:
- Em muốn nói sao cũng được, miễn là làm cho anh tới đó và anh sẽ theo đúng bất cứ điều kiện nào em đòi hỏi.
Như thế, y đưa lời hứa với con quỉ cái. Nó mang tới cho y một con ngựa, đằng sau yên có hai cái túi chứa đầy vàng bạc và đủ loại đá quí. Y leo lên ngựa ra đi, và chỉ chốc lát sau, thấy mình đứng trước ngôi nhà của mình.
Khi thấy y, vợ con của y liền chạy lại ôm hôn thắm thiết. Lũ con vừa chảy nước mắt vui mừng vừa nói:
- Cha ơi cha, chúng con cám ơn cha đã về nhà. Bấy lâu nay cha ở chỗ nào vậy?
Người ấy không kể cho các con nghe nơi mình đã ở mà chỉ cho chúng tiền bạc và những gì còn lại trong tất cả mọi thứ y mang về. Sau đó, y nằm xuống bên cạnh vợ suốt đêm. Tuy thế, y ăn năn hối hận ghê gớm và khóc lóc đầm đìa nước mắt tới độ không thể nào chợp mắt được một chút. Vợ của y hỏi:
- Chồng của tôi ơi, ông khóc lóc chuyện gì vậy? Tại sao ông lại sầu khổ đến thế? Sau một thời gian dài dằng dặc xa nhà mới về lại với vợ con mà ông chẳng làm gì cả, chỉ có khóc lóc thôi, thế thì ông là loại đàn ông nào vậy?
Người đàn ông không trả lời. Khi người vợ thấy chồng đang giấu diếm chuyện gì đó với mình, bà nói:
- Nếu ông không kể cho tôi nghe đó là chuyện gì, tôi sẽ tự sát cho mà xem!
Nói xong, bà liền lấy sợi dây thắt lưng cột quanh cổ mình và bắt đầu siết chặt cho nghẹt thở. Thấy vậy, người chồng vội vàng chạy tới và thét lên với vợ:
- Bà ơi, hãy tới đây nằm với tôi, và tôi sẽ kể hết cho bà nghe mọi sự đã xảy ra.
Như thế người đàn bà bỏ sợi dây thắt lưng xuống, tới nằm với y. Và y kể cho bà nghe hết tất cả những gì đã xảy ra. Bà nói:
- Chồng của tôi ơi, xin hãy lắng nghe tôi. Ông hãy tới hội đường rồi ở lại trong đó học sách Tô-ra suốt ngày suốt đêm, và ông sẽ được bảo vệ chống lại mọi sự làm hại mình.
Y trả lời:
- Ý tưởng ấy của bà thật hay ho; tôi sẽ làm theo lời bà.
Tới sáng hôm sau, người Do Thái thức dậy rất sớm. Y đi tới hội đường và ngồi ở đó học sách Tô-ra suốt mấy ngày liền.
Khi con quỉ cái thấy chồng mình không trở về, nó sai một con quỉ khác giả dạng làm một thanh niên tuấn tú. Gã thanh niên này tới gần người Do Thái ấy trong hội đường và nói:
- Anh tới đây, tôi có việc muốn nói riêng với anh.
Người ngoan đạo ấy trả lời:
- Ngươi có thể nói cho ta biết ngươi muốn cái gì nhưng ta sẽ tiếp tục việc học ngay.
Khi con quỉ thấy người ấy không ngưng việc học dù chỉ một giây, nó liền bỏ đi không nói một tiếng và quay về gặp con quỉ cái, kể cho nó nghe chuyện đó. Lúc ấy, con quỉ cái đích thân đi. Nó giả dạng làm một phụ nữ xinh đẹp tới gặp thầy giảng* của hội đường ấy và nói với ông rằng:
- Thưa thầy, xin hãy lắng nghe tôi. Tôi muốn đưa đơn khiếu kiện một người đàn ông đang ở trong hội đường.
Nghe vậy, người Do Thái ngoan đạo nói:
- Ngươi chẳng có điều gì để khiếu nại cả.
Con quỉ nói:
- Nhưng em là vợ của anh. Anh đã cưới em đúng theo lề luật, có làm hôn lễ trước bàn thờ, và em đã có con cái với anh. Trước khi rời em lên đường, anh đã hứa với em sẽ quay về ngay hôm sau, và em còn cho anh cả vàng lẫn bạc. Anh đã không giữ lời hứa - và như thế em tới đây để đòi hỏi anh phải hoàn thành các nhiệm vụ của mình đúng với lề luật Do Thái.
Người ấy nói:
- Nhưng ngươi không phải là đàn bà Do Thái mà là một con quỉ. Ngươi chẳng có chút quyền nào ở đây. Hỡi Xa-tan*, hãy đi cho khuất mắt ta!
Khi thấy mình không cách gì có thể thuyết phục hay hăm dọa hay năn nỉ ỉ ôi nữa, con quỉ cái nói với y:
- Thế thì em có một đòi hỏi sau cùng đối với anh, và anh chỉ có việc chấp nhận nó để vứt bỏ em. Nó là điều cuối cùng mà em yêu cầu anh, một lần rồi thôi.
Người ấy nói:
- Cứ việc yêu cầu và ngươi sẽ có nó.
Nó nói:
- Hãy hôn em một cái, và em sẽ chẳng bao giờ làm phiền anh nữa.
Như thế, người Do Thái ngoan đạo bước tới bên con quỉ và hôn nó. Và với cái hôn ấy, con quỉ hút lấy linh hồn của y ra khỏi người y, và rồi nó biến mất mãi mãi.
***
Chú thích:


* Torah. Trong tiếng Híp-ri, Torah có nghĩa là những lời giảng dạy hay học hỏi. Torah gồm năm cuốn sách được qui cho Mô-sê, gọi là Luật Mô-sê hay năm cuốn sách đầu của Kinh thánh (Ngũ kinh), gồm sách Sáng thế, sách Xuất hành, sách Lê-vi, sách Dân số và sách Đệ nhị luật. Người Do Thái giáo chính thống tin rằng nội dung sách Torah được Thượng đế truyền trực tiếp cho Mô-sê trên núi Xi-nai, và liền đó ông chuyển giao cho dân Is-ra-el. Sách Torah được dùng làm căn bản các lề luật về đạo đức và hướng dẫn thể lý. Nó bắt đầu với sự mô tả nguồn gốc của vũ trụ và kết thúc với chữ Is-ra-en, ngay sau câu chuyện cái chết của Mô-sê và trước cuộc xâm chiếm của người Is-ra-en vào đất Ca-na-an. Theo ý nghĩa rộng lớn hơn, sách Torah bao gồm mọi lời giảng dạy của Do Thái giáo, toàn bộ Kinh thánh và sách Talmud.
* Hội đường: Hội đường không chỉ là nhà thờ phượng của Do Thái giáo mà còn là nơi tập trung sinh hoạt của cộng đồng - trường học, trung tâm tôn giáo, phòng họp và phòng xử án. Tuy thế, hội đường không thể thay thế hoặc mô phỏng chức năng cao cấp của Đền thờ Giê-ru-sa-lem. Nó không có tư tế và không cử hành lễ tế.
Các hội đường ban sơ có lẽ chỉ gồm một phòng đơn giản. Đó là nơi có mười người nam hoặc hơn của một cộng đoàn Do Thái tụ tập để dâng lời cầu nguyện và trao đổi những khái niệm về sách Torah và các cuốn còn lại của Kinh thánh, và các tài liệu giảng huấn khác như Mishnah, Midrash. Về sau, các cộng đoàn dựng lên một toà nhà đặc biệt, thường là toà nhà cao nhất cộng đồng. Theo thời gian, kiểu mẫu kiến trúc thay đổi dù mọi hội đường đều có chung một số đặc điểm. Dứt khoát, cửa sổ là tất nhiên vì sách Torah phải đọc ở chỗ có đủ ánh sáng. Mặt tiền có ba cửa lớn, tiếp cận một hàng hiên có vòm, hoặc tiền sảnh, nơi tín đồ chuẩn bị tư thế trước khi đi vào. Bên trong, đặt các băng ghế thành dãy theo ba mặt, đối diện với bục thuyết giảng, dành cho người đứng nói.
Trong một số trường hợp, toà nhà hội đường được định vị sao cho mặt của cộng đoàn nhìn về hướng của Hòm bia đựng sách Torah và hướng của Đền thờ Giê-ru-sa-lem. Có thể có dãy ghế dành cố định cho Hội đồng kỳ mục (trưởng lão). Nền nhà hầu hết bằng đá bằng phẳng nhưng các cộng đoàn giàu có thường gắn đá đa sắc để trang trí.
Trong mấy chục năm đầu thời Kitô giáo sơ khai, các tông đồ và môn đệ cũng thường rao giảng trong hội đường Do Thái giáo.
* Đêm Thứ bảy. Ở đây, có lẽ người kể có chủ ý vì ngày Sa-bát bắt đầu vào lúc mặt trời lặn chiều Thứ sáu, cũng là lúc người Do Thái tới hội đường để kinh nguyện, bắt đầu một ngày nghỉ việc, chay tịnh và sẽ kéo dài cho tới lúc mặt trời lặn ngày Thứ bảy.
* Lý. Leave. Dài khoảng 4 cây số.
* Thầy giảng. Rabbi. Còn có thể gọi là tôn sư, hoặc thầy cả. Để trở thành thầy giảng, một thanh niên phải theo học với một tôn sư, trong một khoảng thời gian không nhất định, cho tới khi được vị thầy ấy công nhận là người ấy có thể tự mình đưa quyết định chính xác về khía cạnh tôn giáo của một vấn đề. Lúc đó, vị thầy sẽ tuyên bố môn sinh ấy là một học giả được phong chức và là kẻ có thể tự xưng mình là một thầy giảng. Cho tới thế kỷ 13, thầy giảng không nhận lương bổng. Nhiệm vụ của thầy giảng trong Do Thái giáo chính thống bao gồm quyết định về mọi vấn đề liên quan tới lễ nhập đạo (cắt bì), điểm đạo lúc đủ 13 tuổi, hôn nhân, li dị và lề luật, v.v. Thầy giảng không phụ trách tế lễ, vì đó là công việc của giới tư tế.
Trong sách Phúc âm, có chỗ Đức Giê-su cũng được gọi là rabbi.
* Xa-tan. Quỉ vương hay quỉ sứ (Satan, Ashmodai, Asmodeus). Theo niềm tin của nhiều tôn giáo, nó là một tác nhân độc dữ và siêu nhiên, ảnh hưởng lên động thái của con người. Theo truyền thống Thiên Chúa giáo (gồm Do Thái giáo và Kitô giáo), Xa-tan là là một bộ mặt nguy hiểm cực độ, thủ lãnh của các thần linh độc dữ hoặc của các thiên thần sa đọa. Chúng vốn là phẩm (cơ binh) thứ nhất trong 10 cơ binh thiên thần, bị Thượng đế trừng phạt vì dám kiêu ngạo, thách đố quyền năng của Thượng đế. Vì thế, ngày nay, các cơ binh thiên thần còn lại được gọi là chin phẩm thiên thần.
Cũng trong Kinh thánh, Xa-tan có đầy đủ quyền năng chẳng kém Thượng đế, ngoại trừ việc làm con người sống lại, được hiểu như khả năng làm điều thiện. Trong văn học tôn giáo, Xa-tan xuất hiện với nhiều hóa trang khác nhau, mang lốt con người hay loài vật, và nhiều danh xưng khác nhau như Beelzebul, Belial, v.v. Cũng theo truyền thống Thiên Chúa giáo, người bị chứng quỉ ám là bị Xa-tan chiếm hữu. Tuy thế, vẫn có tín ngưỡng thờ phượng Xa-tan, gọi là Satanism, liên quan tới phép phù thủy, ma thuật của pháp sư, v.v. Tín ngưỡng này vẫn dai dẳng thịnh hành bất chấp sự chống đối trong suốt lịch sử của Thiên Chúa giáo.
* Văn bản của truyển này được ước lượng là có từ bản chép tay vào thế kỷ 13, được xuất bản lần đầu trong Révue des Etudes Juives.
* Trích từ “Kho tàng truyện dân gian Do Thái”, Nguyễn Ước sưu tầm và chú giải, sẽ xuất bản.

Thứ Năm, 22 tháng 7, 2010

Một Sự Khởi Đầu

Trái đất của chúng ta được đặt trên một quỹ đạo thích đáng.
Trái đất cách xa mặt trời khoảng 91 triệu dặm (khoảng 146 triệu km). Nếu trái đất cách xa mặt trời, giả sử 120 triệu dặm (192 triệu km), mọi vật sẽ bị đông lạnh. Ngược lại, nếu đem nó đến gần mặt trời khoảng 60 triệu dặm (96 triệu km) thì mọi vật sẽ bị đốt cháy.
Nếu mặt trời nóng gấp đôi thì sẽ nướng hết mọi vật trên đất. Ngược lại, nếu nó chỉ nóng bằng phân nửa sức nóng hiện tại, mọi vật sẽ bị đông đá.
Trái đất xoay chung quanh nó khoảng 1000 dặm một giờ, tính tại đường xích đạo. Nếu tốc độ đó giảm xuống còn 100 dặm một giờ, thì ngày và đêm dài hơn 10 lần, tức là một ngày và đêm sẽ có 240 giờ. Ban ngày cây cối sẽ bị đốt cháy hết, và ban đêm hạt giống sẽ bị đông lạnh mà chết.
Trái đất nghiêng trên trục Nam- Bắc khoảng 23,5 độ. Nếu không có độ nghiêng này, hơi nước bốc lên từ biển sẽ bay đến vùng địa cực, và tạo ra những núi tuyết khổng lồ. Chúng ta sẽ không có bốn mùa, và khí hậu sẽ không thay đổi. Nếu trái đất nghiêng khoảng 47 độ, chúng ta sẽ không chịu được hơi nóng vào mùa hè, và mùa đông sẽ vô cùng lạnh lẽo.
Khoảng cách giữa mặt trăng và trái đất là 200 ngàn dặm (khoảng 320 ngàn km). Nếu mặt trăng chỉ cách trái đất khoảng 50 ngàn dặm (80 ngàn km) thì thủy triều dâng lên sẽ ngập lụt cả những dẫy núi cao. Và nếu nước đại dương sâu hơn, nước biển sẽ hút hết thán khí (CO2) và dưỡng khí (O2), như vậy cây cối và con người sẽ bị hủy diệt.
Các khoa học gia không hiểu tại sao số lượng của những chất ga trong bầu khí quyển vừa đúng tỷ lệ với nhau để duy trì sự sống trên đất. Bầu khí quyển chúng ta thở mỗi ngày chứa trung bình khoảng 21% chất dưỡng khí. Nếu số lượng dưỡng khí nhiều hơn sẽ ô-xít hóa hết đá sỏi và kim loại, nếu ít hơn thì chúng ta sẽ không đủ để thở.
Số lượng chất thán khí trong khí quyển là 0,3%, nếu nhiều hơn một chút sẽ làm cho nhiệt độ trong không khí nóng hơn. Ít hơn một chút sẽ làm cho cây cỏ chết dần (cây cối dùng CO2 để tạo ra chất dinh dưỡng qua phương pháp photosynthesis).
Nếu bầu khí quyển mỏng hơn một chút, thì hàng triệu vẫn thạch từ không gian rơi vào trái đất sẽ đè bẹp con người trên đất, vì những vẫn thạch này không được đốt ra tro trước khi rơi xuống mặt đất.
Làm sao những sự huyền diệu như thế tự nó có thể xẩy ra được? Làm sao trái đất có thể tự nó hiện hữu được? Phải có một Đấng Sáng Tạo. Phải có một sự khởi đầu cho muôn vật, mà tất cả những điều kỳ diệu chung quanh chúng ta là bằng chứng của sự sáng tạo đầy quyền phép đó.
Những người tin ở thuyết tiến hóa đả phá ý tưởng vũ trụ được tạo nên bởi Thượng Đế. Họ cho rằng sự hình thành của mọi vật trên thế gian, trong vũ trụ chỉ là kết quả của một quá trình diễn tiến. Bắt đầu là những tinh thể gọi là quark, kết tụ lại và tăng trưởng biến hóa từ từ thành vật thể. Cũng như con người là một quá trình tiến hóa từ con khỉ mà ra. Họ không tin con người được tạo nên bởi chính bàn tay Thượng Đế, và là một tuyệt phẩm do chính Thượng Đế làm ra đểt cai quản muôn loài, muôn vật trên thế gian.
Có biết bao điều thuyết tiến hóa không thể giải thích được. Nhưng ở đây xin chỉ nói về những điểm kỳ diệu của con người. Trước hết hãy nói về óc sáng tạo của nhân loại trong cuộc hành trình từ một thời đại ăn lông, ở lỗ tiến đến thời đại nguyên tử, văn minh vệ tinh, văn minh điện toán như ngày hôm nay.
Loài ong mấy ngàn năm vẫn xây tổ theo một kiểu. Loài chim từ thuở khởi đầu, vẫn một cách di tản sang xứ khác để tránh mùa lạnh hàng năm. Loài nai qua hàng bao thế hệ vẫn chỉ biết trốn chạy để tránh nguy hiểm. Và loài khỉ qua hàng ngàn năm nữa, cũng chỉ biết leo cây hái trái, trần truồng bắt chấy rận cho nhau.
Nhân loại thì khác, nhân loại tiến triển qua thời gian. Óc sáng tạo giúp con người vượt qua khó khăn trở ngại, chinh phục thời tiết, chinh phục không gian, chinh phục bệnh hoạn, chinh phục mọi loài, mọi vật chung quanh. Sự sáng tạo không những giúp nhân loại sinh tồn, mà còn giúp vào sự tiến hóa, giải đáp những ưu tư, thắc mắc, những tò mò, thúc đẩy con người khám phá và tăng trưởng khả năng mình.
Sáng tạo là một sự ban cho của Thượng Đế, không tự nó có được, và chắc chắn không được lưu truyền từ loài khỉ.
Loài vật trên trời, dưới biển, trên đất, tất cả những loài được xem là thông minh nhất, kể cả laòi khỉ là giống được người ta cho là thủy tổ của loài người, cũng không giống nào có nhu cầu cần thiết thờ phượng ai. Loài vật sống bằng năng lực cảu chính nó, hoặc tấn công hoặc chạy trốn để sinh tồn. Loài vật không biết đến sự cầu khẩn, thờ phượng vào một quyền năng, một Đấng mà nó không hề biết, không hề thấy.
Con người không phải như vậy. Hãy đi tìm những tài liệu khảo cổ về loài người từ thời thượng cổ, hay là những bộ lạc man rợ còn sót lại ở dọc sông Amazon, hay những giống người ở ngoài hoang đảo, hay ở tận rừng núi Phi châu. Những con người chưa hề biết đến một nền văn minh nào cả. Những con người còn sinh hoạt như loài thú. Nhưng tất cả họ đều có một nhu cầu thờ phượng giống nhau. Họ thờ một cây cổ thụ, một ngọn thác, một con suối, một miếng gỗ, một cái hang. Họ thờ bất cứ cái gì có vẻ không bình thường. Họ sợ hãi, kính cẩn gọi những vật đó là Thần của họ. Vị Thần họ tin có thể bảo vệ và cũng có thể huỷ diệt họ.
Chúng ta cho rằng những người này là ngu muội, mê tín dị đoan, bị các tên phù thuỷ, buôn thánh bán thần lợi dụng để thủ lợi. Thế thì chúng ta hãy trở lại một nơi chốn văn minh. Thử tìm ở Pháp, thủ đô văn hoá thế giới. Ở Anh, mấy ngàn năm văn minh, tiến bộ. Ở Hoa Kỳ, đệ nhất quốc gia về kỹ thuật khoa học. Đại đa số dân chúng, từ mọi tầng lớp trong xã hội đều thờ phượng một Đấng Thượng Đế nào đó. Những người này có phải cũng là những kẻ ngu muội, mê tín dị đoan chăng?
Nhà bác học Einstein, một kỳ tài toán học đã từng nói, "Khám phá vĩ đại nhất của tôi là Thượng Đế."
Thomas Edison, người phát minh ra đèn điện và máy hát, một bộ óc với hơn 2500 bằng sáng chế cũng đã nói, "Thượng Đế đã ban cho tôi tất cả."
Con người! Bất kể ở thời đại nào, nơi nào, xã hội nào, tầng lớp nào, cũng đồng chung một nhu cầu tín ngưỡng. Nhu cầu tín ngưỡng nằm trong tiềm thức của nhân loại, ấy là ước muốn được thờ phượng Đấng Tạo Hoá, Đấng đã tạo dựng lên vũ trụ và tạo dựng lên mình.
Thượng Đế vẫn còn đấy, là Đấng vẫn hiện hữu, hằng hữu bàng bạc qua khắp các sự vật do Ngài tạo ra, là Đấng vẫn ngự trị trên ngôi trời và điều khiển vạn vật bằng quyền phép vô biên, vô lượng.


Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2010

Thế Giới Đạo Và Đức Của Lão Tử

1. Đạo và Đức:

Để thực hiện một cuộc sống lòng dạ nên trống vắng những tham lam, và tâm tư được hoà nhịp với lẽ thường hằng của thiên nhiên vạn vật, Lão Tử đã chủ trương trở về với Đạo và sức sống kỳ diệu của Đạo là Đức.

a. Đạo:
Chữ Đạo đã có từ thời cổ đại Trung Hoa với những Kinh Điển như Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch... xuyên qua những tác phẩm cổ điển là Tứ Thư như Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử... và thường xuyên được dùng trong ngôn ngữ và cuộc sống dân gian. Chữ Đạo diễn tả rất nhiều nghĩa, từ những nghĩa vật chất, luân lý, tri thức, siêu hình cho đến tôn giáo. Ngoài ý nghĩa Đạo là đường, Đạo cũng còn có những ý nghĩa: phương tiện để đạt mục đích, con đường phải đi theo, con đường đức hạnh, cơ sở của khôn ngoan trí huệ, ý lực ngay thẳng đúng đắn, giáo lý, nguyên tắc, luật lệ, ý nghĩa của hiện hữu hay của một sự vật, tác động, ảnh hưởng, nói, giải thích, lèo lái, dẫn dắt.Ta có thể đúc kết các nghĩa của chữ Đạo trong 3 loại: siêu việt, hiện trần và con đường sống.

* Với nghĩa siêu việt, Đạo chính là thực tại tối hậu: Đạo trong nghĩa này vượt quá tầm mức hiểu biết của con người. Ngay câu đầu trong Đạo Đức Kinh đã nói: "Đạo khả đạo phi thường Đạo" (Đạo mà nói ra được thì không phải là Đạo thường hằng). Dẫu thế, Đạo "không diễn tả nên lời này" lại là cơ sở, là gốc, là ngọn nguồn và là cùng đích của mọi sự vật. Bên trên, đàng sau và phía dưới mọi sự là cung lòng Đạo, từ đây mọi sự sống được vươn lên và nơi đây mọi sự sống được trở về. Tác giả Đạo Đức Kinh đã đầy tôn kính và ngưỡng mộ, chỉ biết thốt lên lời hoan ca khi được giáp mặt với huyền bí nguyên thuỷ của sự sống, huyền bí của mọi huyền bí: Thật là cao sáng! Thật là tĩnh lặng! Phải là cái gì vô thuỷ vô chung, không có bắt đầu, không có cùng tận! Trong mọi vật lớn, Đạo phải là cái lớn nhất: Gượng cho là lớn, lớn là tràn khắp, tràn khắp là đi xa, đi xa là trở về; thật đây là cửa ra vào của mọi huyền diệu trong trời đất! (Đạo Đức Kinh, câu: 1, 14, 16, 21, 25). Sự bất khả diễn tả đã là điều quá rõ rệt, ta sẽ chỉ còn là rơi vào lời cảnh giác bao hàm chế riễu: "Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri" (Kẻ biết thì không nói, kẻ nói thì không biết) - (ĐĐK, c. 56).

* Mặc dầu siêu việt như thế, Đạo đồng thời cũng là hiện trần. Trong nghĩa này, Đạo dùng để chỉ cái Đạo Thiên Nhiên, là chuẩn mực, tiết nhịp, sinh lực của trời đất, nguyên lý của trật tự điều hành phía sau mọi sự sống. Phía sau mọi sự sống, mà cũng là bên trong mọi sự sống; trong nghĩa này, Đạo đã "thành xác thể", điều động mọi sự vật, thích nghi với sự vật, hoà đồng với sự vật: "làm nhụt bén nhọn, tháo gỡ rối răm, điều hoà ánh sáng, đồng cùng bụi bặm: "đồng kỳ trần" (ĐĐK, c. 4, 56).

* Đạo trong nghĩa con đường sống: Vì Đạo theo nguyên lý là tinh thần hơn vật chất, nên Đạo không hề vơi cạn, càng được mong cầu, càng nhiều ban cho, vì Đạo là giếng nguồn không khô cạn. Đạo cũng mang dấu ấn "tàn nhẫn bất tất", vì với mùa thu đến, không một chiếc lá nào vì lẽ nó đẹp, không một bông hoa nào vì lẽ nó thơm, mà lại được châm chước thứ tha không phải tàn lụi. Nhưng thực chất cuối cùng, Đạo là lành là tốt; thay vì bức bóc đi, nay Đạo lại ban cho, sức mạnh can trường, sự sống dẻo dai, và là đầy tràn, vì Đạo cũng là "mẹ thiên hạ" (ĐĐK, c. 25). Là năng lực của thiên nhiên, Đạo giống như khái niệm "sinh lực" (énergic vitale) của truyền thống Phi châu, như quan niệm "đà sống" (élan vital) của Bergson. Là chuẩn lực của vạn vật, Đạo giống như khái niệm "luật vĩnh hằng" (lex aeterna) của thời cổ đại kinh điển, luật trường cửu gây tạo cơ chế cho vũ trụ thiên nhiên. Đạo hiểu như thế cũng giống như là "nguyên lý dung hội chủ toàn", một nguyên lý kết hợp và chuyển hoá các thành tố nên một để phục dịch toàn thể (principe integrant pour la totalité) của George Romanes, bạn đồng nghiệp của Charles Darwin, nhà khoa học chủ trương Thuyết tiến hoá.

b. Đức:
Chữ Đức thường được hiểu trong một nghĩa luân lý, như đức hạnh, đạo hạnh, kèm theo một chút ít màu sắc tôn giáo, lễ nghi, phong tục, giới tính như khiêm nhu, trinh bạch. Đức còn có nghĩa là khả năng thích ứng, giỏi giang, quả cảm, đáng giá, như khi nói về một con dao có khả năng cắt xén tốt. Đức còn là khả năng linh thiêng, là linh lực, sinh lực thần thiêng. Tiến thêm một bước nữa, Đức là toàn thể nhân cách một con người cùng với linh lực phân xuất ra từ con người đó.Đức trong Đạo Đức Kinh lại mang một nghĩa đặc biệt: Đức là sinh lực, sinh lực cấp dưỡng, nuôi nấng, đùm bọc, bồi bổ, chở che. "Đạo sanh, Đức dục" (Đạo sinh ra, Đức nuôi dưỡng) - (ĐĐK, c.51). Đạo là nguyên lý vô hình, Đức là nguyên lý hữu hình, Đạo là không tên, Đức là có tên. Đức làm cho con người có thể trở nên như con đỏ (ĐĐK, c. 55), trở về với đơn phác, cùng với những đức tính như chính Đạo đã có (ĐĐK, c. 25); Đức cao mà như trũng thấp, Đức giầu mà như không đủ, Đức vững mạnh mà như cẩu thả (ĐĐK, c. 41). Đức là thiện, là trung thực (ĐĐK, c.49), là trung tín (ĐĐK, c. 79), là không tranh chấp (ĐĐK, c. 68, 73), sanh mà không chiếm là của mình, làm mà không cậy công, là bậc trên mà không làm chủ, đó gọi là Huyền Đức (ĐĐK, c. 51). Những ai thật theo Đạo thì tích được nhiều Đức, tích được nhiều Đức thì không gì khắc phục được, không gì khắc phục được thì năng lực mình không biết tới đâu là cùng, năng lực không biết tới đâu là cùng thì trị được nước, nắm được gốc mẹ của đạo trị nước thì có thể tồn tại được lâu dài, đó gọi là rễ sâu, gốc vững, là nắm được cái Đạo thường tồn (ĐĐK, c. 59). Đức trong Đạo Đức Kinh có thể tóm kết vào ba điểm sau đây:
-như là vật thuộc về Đạo và không thể phân lìa khỏi Đạo,
-bao gồm những đặc tính mà chỉ Đạo mới có,
-Đạo và Đức cùng bảo trợ và nuôi dưỡng thế giới hiện tượng.

2. Nhu mềm - nước trũng - tính nữ - lòng từ:
Điều mà trong Đạo Đức Kinh có lẽ đánh động độc giả hơn cả là tính nhu mềm, tính nữ: nhu mềm và tính nữ trong Đạo, trong Đức, trong thế giới. Một điều đáng lưu ý là tính nữ ở đây có phần nào tương tự như tính âm, nhưng lại vượt hẳn âm tính. Trong thuyết âm dương, dương và âm thay đổi nhau để tác động; còn trong Đạo Đức Kinh thì tính nữ, tính nhu mềm luôn thắng tính nam, tính cường mạnh (ĐĐK, c. 36, 61, 78). Đó là điều khác biệt, và là một điều khác biệt lớn.

a. Nhu mềm: "Mềm yếu thắng cứng mạnh" (ĐĐK, c. 36, 78); "Cứng mạnh cùng loài với sự chết, mềm yếu là bạn của sự sống" (ĐĐK, c. 76), đó là câu Đạo Đức Kinh thường được trích dẫn và trích dẫn nhiều nhất, là tư tuởng phổ biến nhất của Lão Tử. Ngay những người duy vật cũng thích dùng câu này, áp dụng cho trường hợp những người yếu hèn và bị áp bức sẽ thắng những người hùng mạnh đàn áp. Đó là tư tưởng nằm trong truyền thống Trung Hoa, được ghi lại rất nhiều trong kho tàng văn học, triết lý, tôn giáo, nghệ thuật, y khoa và cả đến trong các môn võ thuật.

b. Nước trũng và khe lạch: Nước tượng trưng cho sự ban cho mà không đòi hỏi đáp trả, làm lợi ích cho vạn vật mà không tranh dành. Nước tìm đến chỗ trũng thấp, nơi mà người ta thường xa tránh; nhưng chính vì thấp mà nước có lợi, nhờ thế mà nước trở nên mạnh, mạnh nhất, mặc dầu nước là mềm yếu nhất trong mọi vật : Dưới trời mềm yếu, không gì hơn nước / Thắng được vật cứng, không gì bằng nước / Không gì thay thế nó được, (ĐĐK, c. 8, 78).

c. Lòng Từ: Nhu mềm, nước trũng, khe lạch, tính nữ... là những tư tưởng tiên phong dự báo cho một đức tính lớn lao hơn nữa, đó là lòng từ. Lòng từ là báu vật thứ nhất trong 3 vật báu mà Lão Tử hằng ôm ấp nắm giữ và muốn trao đổi lại (hai báu vật kia là lòng kiệm và khiêm - ĐĐK, c. 67). Lòng từ của Lão Tử nhắm trở nên hữu ích cho muôn loài (ĐĐK, c. 8, 34), giúp cho chúng nhân hối cải mà trở về (ĐĐK, c. 64), lấy cái lòng của trăm họ làm lòng của mình (ĐĐK, c. 49); nếu có phải tranh đấu, thì cũng tranh đấu bằng lòng từ: như thế mới thật thắng, mớigiữ vững. Lòng từ quan trọng đến nỗi, nếu Trời muốn cứu ai, thì cũng cứu bằng lòng từ (ĐĐK, c. 67). Điều ngỡ ngàng, cảm kích và đáng tôn quý nữa là, Lão Tử chủ trương một lòng từ với tất cả mọi người không chút phân biệt: cả người lành lẫn người dữ, không một ai bị loại bỏ (ĐĐK, c. 27, 49, 62). Lão Tử hỏi: Với kẻ không lành, tại sao lại bỏ chúng? (ĐĐK, c. 62). Không phải đây là chiến thuật dụ người: Với kẻ chẳng lành, cũng lấy lành mà ở, để được lành; với kẻ không thành tín, cũng lấy thành tín mà ở, để được thành tín (ĐĐK, c. 49); Lão Tử cho biết lý do: Người theo Đạo thì xem tất cả mọi người như con mình (ĐĐK, c. 49), và nhất là lấy chính Đạo làm mẫu mực; mà Đạo thì không những là chỗ ẩn náu sâu kín cho vạn vật, là của chân châu cho người lành, mà còn là nơi nương dựa cho kẻ không lành. Đến nỗi Đạo còn ban ơn cho mọi kẻ cầu xin và tha thứ cho kẻ có lỗi; cũng vì thế mà Đạo là "vật quý của thiên hạ" (ĐĐK, c. 62). Những ai không biết được điều đó, chỉ quý người lành mà không biết quý người chẳng lành, thì dẫu họ được gọi là bậc trí, thì thực ra họ cũng chỉ là kẻ mê lầm to. Đó quả thật là điều "huyền diệu" (ĐĐK, c.27).

***
Thế giới Đạo và Đức của Lão Tử không phải chỉ biết quan sát thiên nhiên vũ trụ. Mục đích của Đạo Đức Kinh là cuộc sống, cuộc sống của con người, thiên nhiên và xã hội. Đối với Lão Tử, Đạo là thực tại thâm sâu cuối cùng làm cơ sở cho mọi sự vật trong thế giới hiện tượng; sinh lực nuôi dưỡng, điều hoà và phát triển vạn vật là Đức được quan niệm như một thuộc tính của Đạo. Điều rất quan trọng và đặc sắc là, sinh lực của Đức hoạt động mãnh liệt nhưng âm thầm, từ tốn, khiêm nhu giống như nước, như con mái, như người nữ, như ngườimẹ. Đạo Đức Kinh đã trình bày một khái niệm rất mới, rất độc đáo và rất an nhiên về Đạo. Có thể nói, tác giả của Đạo Đức Kinh phải đã có được một cái nhìn siêu hình rất mới và rất thâm viễn về Đạo mà các văn triết nhân trước đó chưa có được. Tác giả đã đem lại cho Đạo một nộidung mới mà trước đó trong tư duy triết học chưa hề có và sau đó chưa có ai đã vượt xa hơn.

Thứ Sáu, 25 tháng 6, 2010

Làm Phật Không Dễ

Một thiền sư nổi tiếng đã kể gia thoại sau đây về cuộc đối thoại dí dỏm giữa Đức Phật và ác thần Mara:
Ngày nọ, Đức Phật đang bận việc dưới hầm, còn Ananda, đệ tử thân tín của Ngài đứng ngoài cửa. Thình lình Ananda thấy Mara xuất hiện. Ananda cứ tưởng rằng Mara bị lạc lối. Nhưng Mara tiến lại gần Ananda và yêu cầu cho được gặp Đức Phật, Ananda ngạc nhiên trước yêu cầu của Mara nên hỏi lại:
- Ngươi còn đứng đây để làm gì? Ngươi không nhớ là Đức Phật đã nhiều lần đánh bại ngươi dưới gốc cây bồ đề rồi sao? Ngươi không biết xấu hổ sao? Cút đi, Đức Phật không muốn thấy mặt ngươi nữa đâu, người là đồ ác, ngươi là kẻ thù của Ngài.
Nghe thế, Mara liền cười ngất:
- Sao, ngươi bảo là sư phụ ngươi cũng có kẻ thù ư?
Ananda cảm thấy bối rối, anh biết Đức Phật chưa bao giờ nói rằng Ngài có kẻ thù. Đuối lý, Ananda liền xuống hầm báo tin cho Đức Phật biết Mara xin được gặp Ngài. Anh hy vọng Đức Phật sẽ sai anh lên nói với Mara rằng: Ngài đang bận, không thể tiếp hắn được. Nhưng trái với những dự đoán của Ananda, Đức Phật rất vui mừng khi nghe tin có Mara muốn gặp, cứ như thể hắn là một người bạn chí thân của Ngài, và Ngài liền thân hành đến gặp Mara. Ananda hết sức thất vọng khi thấy Đức Phật đến trước mặt Mara cung kính bái chào hắn, rồi nhiệt tình bắt tay hắn. Ngài niềm nở:
- Chào ông bạn, ông có khỏe không? Mọi việc đều tốt đẹp cả chứ?
Nhưng Mara im lặng, không trả lời. Đức Phật mời hắn xuống hầm và sai Ananda pha trà. Ananda bực bội lắm, anh nghĩ trong bụng: ta có thể pha trà cho sư phụ mỗi ngày một trăm lần cũng được, nhưng pha trà cho Mara, ta thấy không vui chút nào, nhưng vì đó là lệnh của Đức Phật thì làm sao có thể từ chối được. Trong câu chuyện nghe lỏm giữa Đức Phật và Mara, Ananda nghe Mara thú nhận một cách chán ngán như sau:
- Mọi việc diễn ra không tốt đẹp chút nào, tôi quá mệt mỏi vì phải làm Mara, tôi muốn được làm một cái gì khác cơ. Ngài biết đấy: đóng vai Mara không phải là chuyện dễ, có nói thì nói gian, nói dối, còn có làm thì làm điều dữ, điều ác. Tôi mệt mỏi lắm rồi. Nhưng điều làm tôi mệt mỏi hơn cả chính là các môn sinh của tôi. Ngày nay, cứ mỗi lần mở miệng ra thì họ nói tới công bình xã hội, hòa bình, bình đẳng, giải phóng, bất bạo động. Tôi nghe qua nhàm tai rồi, tôi nghĩ đã đến lúc tôi xin bàn giao lại chúng cho Ngài, tôi chỉ muốn làm một cái gì khác thôi.
Đức Phật lắng nghe với tất cả chú ý và cảm thông. Cuối cùng Ngài nói:
- Bộ anh tưởng làm Phật thì dễ hơn sao? Anh không thấy những gì môn sinh của tôi làm cho tôi sao? Họ đặt trên miệng tôi những lời mà tôi chưa bao giờ thốt ra, họ xây chùa chiền cho tôi, tạc tượng tôi, và đặt tôi lên bàn thờ để thu nhặt cam chuối, tiền bạc cho riêng họ. Tôi và giáo huấn của tôi đã trở thành đối tượng để đổi chác. Này ông bạn Mara, nếu ông biết được thế nào làm làm Phật, tôi tin chắc ông chẳng muốn làm Phật chút nào đâu".
Giai thoại trên cho thấy một nghịch lý trớ trêu, nhưng khốn nỗi trong rất nhiều trường hợp đó lại là một thực tế bi thảm: môn đệ của ác thần thì nói toàn chuyện nhân nghĩa, còn đệ tử của Đức Phật lại chỉ mải mê nghĩ đến chuyện khấn vái và cũng tế để thu nhặt cam chuối và tiền bạc, thay vì chuyên tâm tự giác giác tha. Sự thiếu nhất quán và óc thực dụng này đã bóp méo và làm biến chất không biết bao nhiêu giáo huấn tôn giáo cao siêu! Không phải vô lý mà một tư tưởng gia đã nhận định: Giáo lý tôn giáo dù thâm sâu và cao đẹp đến đâu chăng nữa, khi rơi vào tay con người đều bị biến chất!